Nguyễn Phúc Ánh (1762 – 1820)
1. Thông tin
– Tên gọi: Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎)
Tên thường gọi: Nguyễn Ánh (阮暎) hay Gia Long (嘉隆) hay Gia Long Đế
Gia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long
Tên gọi khác: Nguyễn Phúc Chủng (阮福種) hay Noãn (暖).
Tên Xiêm: องเชียงสือ (Ong Chiang Su hay Chiang Sue, tức Ông Thượng Sư)
Thụy hiệu: Khai thiên Hoằng đạo Lập kỷ Thùy thống Thần văn Thánh võ Tuấn đức Long công Chí nhân Đại hiếu Cao Hoàng đế (開天弘道立紀垂統神文聖武俊德隆功至仁大孝高皇帝)
Miếu hiệu: Thế Tổ (世祖)
– Sinh ngày 8/2/1762 (15/1/Nhâm Ngọ) tại Huế, Đại Việt (nay là Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam)
Mất ngày 3/2/1820 (Canh Thìn) (58 tuổi) tại Huế, Đại Nam (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia thời Lê Trịnh trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Nguyễn Phúc Khoát
Ông ngoại là Nguyễn Phúc Trung
– Bố là Nguyễn Phúc Luân và mẹ là Nguyễn Thị Hoàn
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với vợ là Tống Phúc Thị Lan, Trần Thị Đang, Lê Ngọc Bình, Nguyễn Thị Điền, Lâm Thức, Nguyễn Thị Tần, Phạm Thị Lộc, Hoàng Thị Chức, Tống Thị Thuận, Dương Thị Sự, Dương Thị Dưỡng, Trịnh Thị Thanh, Cái Thị Thu, Nguyễn Thị Vĩnh, Trần Thị Thể, Trần Thị Hán, Phan Thị Hạc, Nguyễn Thị Uyên, Đặng Thị Duyên, Tống Thị Lâu, Nguyễn Thị Thụy và nhiều người khác nữa.
– Có 39 người con: (21 con trai và 18 con gái)
Con trai: Nguyễn Phúc Chiêu, Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Phúc Hy, Nguyễn Phúc Tuấn, Nguyễn Phúc Đảm (Kiểu), Nguyễn Phúc Đài, Nguyễn Phúc Bính, Nguyễn Phúc Tấn, Nguyễn Phúc Phổ, Nguyễn Phúc Chẩn, Nguyễn Phúc Quân, Nguyễn Phúc Cự, Nguyễn Phúc Quang, Nguyễn Phúc Mão, Nguyễn Phúc Xương, Nguyễn Phúc Khải, Nguyễn Phúc Đại, Nguyễn Phúc Nhật, Nguyễn Phúc Nam, Nguyễn Phúc Thôn, Nguyễn Phúc Khoáng.
Con gái: Nguyễn Phúc Ngọc Châu, Nguyễn Phúc Ngọc Quỳnh, Nguyễn Phúc Ngọc Anh, Nguyễn Phúc Ngọc Trân, Nguyễn Phúc Ngọc Xuyến, Nguyễn Phúc Ngọc Ngoạn, Nguyễn Phúc Ngọc Nga, Nguyễn Phúc Ngọc Cửu, Nguyễn Phúc Ngọc Nguyệt, Nguyễn Phúc Ngọc Ngôn, Nguyễn Phúc Ngọc Vân, Nguyễn Phúc Ngọc Khuê, Nguyễn Phúc Ngọc Cơ, Nguyễn Phúc Ngọc Thiều, Nguyễn Phúc Ngọc Lý, Nguyễn Phúc Ngọc Thành, Nguyễn Phúc Ngọc Bích, Nguyễn Phúc Ngọc Trình
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Nguyễn Phúc Mỹ Đường, Nguyễn Phúc Ngọc Thông
3. Con người và tính cách
Tài liệu của L.Barizy, một quan thư lại của triều đình Gia Định, và những người phương Tây cùng thời khác mô tả ngoại hình Nguyễn Ánh thời trẻ “dáng người cao trên trung bình, vóc người tầm thước, vẻ mặt đều đặn, nhẹ nhõm, rất dễ nhìn”, “màu da đỏ hồng, rám nắng vì dầu dãi…”
Theo Michel Đức Chaigneau, người con trưởng của Jean-Baptiste Chaigneau và là người từng trực tiếp gặp Gia Long khi ông chừng 50 tuổi, miêu tả Gia Long về già có “thân thể cường tráng”, “da trắng”, “mắt sáng”, “tướng đạo mạo đáng kính”, “nét mặt trang nghiêm, có sắc diện”, “dáng điệu rất sang trọng và tính tình hòa nhã”.
Quốc sử Đại Nam thời Nguyễn thì không tả về ngoại hình, chỉ đề cao về mặt tính cách “thông duệ túc thành”, “trung thành hết mực với Duệ Tông, không bỏ chúa lúc nguy hiểm”, “có lòng ham thích học hỏi”, “biết chia ngọt sẻ bùi với thuộc tướng”, “lúc mềm mỏng, lúc cương quyết” “ứng phó lẹ làng” với các tình thế trong cuộc sống, ông có “cả những tính cách của một chính trị gia – một võ tướng”. Quốc sử còn cho biết: Nguyễn Ánh có tài thiện xạ, bắn súng điểu thương và bơi rất giỏi.
Sử ký Đại Nam Việt ghi nhận “ông (Nguyễn Ánh) làm tướng rất khôn ngoan và can đảm”. Quyển sử này còn viết: “Ngài khốn khó từ lúc bé, phải lưu lạc khắp nơi, chẳng mấy khi được ở yên một nơi nên chẳng kịp học hành là bao nhiêu”, nhưng cũng “rất hay chữ Nho”. Khi nào thấy việc gì lạ, Nguyễn Ánh liền chăm học cho hiểu. Vốn ngài “chẳng biết chữ Tây” nên phải nhờ các quan thông dịch và giảng dạy cho hiểu. Nhất là các bản vẽ hình các khí giới và những cách xây đắp thành lũy, đóng tàu và các kiến thức khác. Các sách và địa đồ đã mua từ châu Âu, thì Nguyễn Ánh “chăm học mà hiểu hầu hết”. Về điểm yếu, Sử ký Đại Nam Việt cũng nêu Nguyễn Ánh là một người “không được vững lòng”, ví dụ như khi thắng trận ông hay mừng vui thái quá còn lúc thua ông lại dễ nản. Ngoài ra, ông còn hay ép các quan thuộc cấp làm việc quá nặng nề.
Georges Taboulet, một giáo viên trung học và nhà nghiên cứu nổi tiếng ở Đông Dương, trong tác phẩm La Geste française en Indochine: histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914 (Sử liệu Đông Dương thuộc Pháp: Lịch sử nước Pháp ở Đông Dương từ khi khởi nguyên tới năm 1914) viết Nguyễn Ánh là: …gan dạ, không thô kệch, dồi dào biến trá trong mọi tình thế. Ý tưởng đúng đắn; không có khó khăn nào ngăn chặn được ông và không có chướng ngại làm có thể làm ông lùi bước… Cử chỉ của ông đối với người ngoại quốc thật dễ thương và hòa nhã. Các sĩ quan dưới quyền ông rất kính phục ông. Ông đối xử với họ rất hòa nhã, thân mật và tốt…
Giáo sĩ Lelabousse viết trong một bức thư ngày 14/4/1800, Nguyễn Ánh là một người “nóng nảy”, “đoản tính”; nhờ có Bá Đa Lộc khuyên ông mới bỏ được các tính đó. Ngoài ra Nguyễn Ánh “cương quyết nhưng không hung tàn”, “nghiêm khắc nhưng theo đúng lệ luật”; “là người trí tuệ, tò mò, ham thích và dễ học hỏi, biết ơn, bao dung và tế nhị”; “lớn lên trong tai ương, ông chịu đựng nghịch cảnh một cách can đảm”. Ngoài ra Lelabousse còn miêu tả lúc trẻ Nguyễn Ánh mê rượu, nhưng từ khi lên làm chúa ông bỏ hẳn, không chạm một giọt rượu vì Nguyễn Ánh cho rằng “Một kẻ không làm chủ được mình, thì làm sao có thể cai trị được người khác?” Nguyễn Ánh là người có trí tuệ với những đức tính “hăng hái”, “thông tuệ”, “thẳng thắng”, ông còn có khả năng hiểu nhanh. Ông nhớ mọi chuyện rất tài và bắt chước mọi thứ rất dễ dàng. Ông làm việc rất cần mẫn, ban đêm đọc rất nhiều sách và ham thích tò mò tìm hiểu kiến thức một cách “chú ý, thích thú với tất cả những gì thuộc về khoa học phát minh”.
Tạ Chí Đại Trường đánh giá “Gia Long là một Nguyễn Ánh được tập thành trong biến cố. Tuổi trẻ, gặp gia biến quá sớm, trước một kẻ thù gần như là vô địch, bị rượt đuổi tận hang cùng ngõ hẻm, ông mang nhiều mặc cảm yếu ớt, hay than thở và bị bắt buộc mong đợi, trông cậy ở người nhiều. Nhưng tình thế giúp ông tự chủ dần dần. Việc khu trừ Đỗ Thanh Nhân là một ví dụ điển hình”.
Tác giả Nghia M. Vo mô tả Nguyễn Ánh là một người biết dùng người, có khả năng tụ tập được nhiều phe phái kình chống nhau; nhiều người thuộc nhiều sắc tộc. Ông sẵn sàng trọng dụng người tài, bất kể sắc tộc (Nguyễn Văn Tồn, một người Khmer); hay nguồn gốc xuất thân (Lê Văn Duyệt, một thái giám). Ngoài ra, Nghia M. Vo còn mô tả Nguyễn Ánh là một người làm việc chăm chỉ. Cụ thể, Nguyễn Ánh có một lịch làm việc thường nhật như sau: thức dậy từ 6 giờ sáng, bắt đầu gặp quan lại vào 7 giờ và phê duyệt tấu trình cũng như ra sắc chỉ; sau đó đi tới thăm các khu vực công xưởng, binh xưởng. Ăn trưa từ 12 giờ tới 1 giờ chiều, sau đó nghỉ trưa tới 5 giờ chiều. Từ 5 giờ chiều, ông làm việc chính sự tới nửa đêm rồi gặp gia đình mình khoảng một giờ trước khi đi ngủ vào khoảng 2 hay 3 giờ đêm.
Về thời kỳ Gia Long, giáo sư Đại học Western Connecticut State Wynn Wilcox mô tả ông là một chính trị gia có hiểu biết, người hiểu và có thể tác động vào tính phức tạp của triều đình ngay khi ông đang hấp hối.
Bách khoa toàn thư Anh thì ghi nhận ông là một vị vua cẩn trọng, bảo thủ, điều đã ảnh hưởng tới các triều vua nối ngôi ông.
Nhà nghiên cứu Đông Á Joseph Buttinger thì mô tả Gia Long là một Nho sĩ nghiêm khắc.
Keith Weller Taylor thì nhận xét nhà vua vẫn giữ các thói quen từ thời chiến trong cung đình qua việc ông “không vội vàng nhưng rất quyết đoán” khi giải quyết chuyện chính sự.
Gia Long rất chán ghét sự rối ren nơi hậu cung do các bà vợ hay đấu đá lẫn nhau. Ông từng tâm sự với một triều thần gốc Pháp là J.B. Chaigneau: “Trị nước thật dễ dàng, không khó nhọc bằng trị chốn nội cung của mình”. Ông gọi các bà vợ là “những con quỷ cái”, và: “Nếu làm đúng thì tôi phải trị tội cả bọn, vì không biết rõ trong cả bọn ấy có đứa nào không độc ác bằng mấy đứa nào!”
4. Cuộc đời và sự nghiệp
Con thứ 3 trong gia đình có 8 anh chị em (Nguyễn Phúc Hạo, Nguyễn Phúc Đồng, Nguyễn Phúc Ánh, tảo thương, Nguyễn Phúc Mân, Nguyễn Phúc Ngọc Du, Nguyễn Phúc Ngọc Tuyền, Nguyễn Phúc Ngọc Uyển)
Nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương
Nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương
Năm 1775 (Ất Mùi) khi 13 tuổi, cùng 4 anh em trong nhà đi theo Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Quảng Nam rồi vượt biển vào khu vực Gia Định (vùng miền Nam Việt Nam ngày nay).
Nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tân Chính vương
Tháng 2/1776 (Bính Thân) khi 14 tuổi, giữ chức Chưởng sứ coi binh Tả Dực, và cho dự họp bàn việc quân. Nguyễn Lữ lãnh binh Tây Sơn đánh Gia Định. Chúa Nguyễn rút về Bà Rịa, Trấn Biên ra lệnh Cần Vương. Nguyễn Lữ lãnh binh Tây Sơn cướp bóc Gia Định rồi quay về Quy Nhơn. Trong thời gian ở Gia Định, nội bộ quân chúa Nguyễn xảy ra tranh chấp giữa phe ủng hộ Nguyễn Phúc Thuần của Đỗ Thanh Nhơn và phe ủng hộ Nguyễn Phúc Dương của Lý Tài, còn Nguyễn Ánh trú tại Ba Giồng (Tam Phụ) với quân Đông Sơn. Tháng 10, Vua Cao Miên là Nặc Ông Vinh nhân thấy chúa Nguyễn nguy khốn, không chịu triều cống. Chúa sai Chưởng cơ Trương Phước Thận, Phó Tiết chế Nguyễn Cửu Tuấn theo giúp Nguyễn Ánh thảo phạt.
Năm 1777 (Đinh Dậu) khi 15 tuổi, theo anh trai là Nguyễn Phúc Dương và tướng quân Trương Phúc Thận ở Tài Phụ. Nguyễn Huệ tiến quân đánh tới, cùng Phúc Dương chạy ra Ba Việt (Bến Tre).
Tháng 9 Nguyễn Huệ bao vây Ba Việt, Nguyễn Phúc Dương và 18 tướng tuỳ tùng bị bắt, may được một đứa trẻ con nhà kép hát che giấu nên trốn thoát.
Tháng 10 được một linh mục Công giáo tên là Phaolô Hồ Văn Nghị và một thầy giảng tên Toán che chở tại khu vực Rạch Giá rồi sau đó lén giúp thoát sang Hà Tiên. Tại đây, ban đầu đến trú tại nhà của Giám mục thuộc Hội Thừa sai Ba Lê là Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc), rồi trốn vào rừng để ẩn nấp quân Tây Sơn truy kích. Nhận được tin báo từ Phaolô Hồ Văn Nghị, Bá Đa Lộc đang tránh Tây Sơn ở Cao Miên bèn trở về, mang theo một người Pháp tên Jean (Gioang) đến gặp và theo giúp. Sau đó, Bá Đa Lộc giúp trốn sang đảo Poulo Panjang (đảo Thổ Châu) sau khi quân lùng bắt của Tây Sơn rút đi. Chừng một tháng trốn chạy, khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã về Quy Nhơn thì lại trở lại Long Xuyên, tiến lên Sa Đéc với Đỗ Thanh Nhơn và Lê Văn Quân; ra hịch cáo quân và thu nhận được thêm một đội quân cùng các tướng Nguyễn Văn Hoằng, Tống Phước Khuông, Tống Phước Luông và Hồ Văn Lân…
Có 1 giai thoại kể rằng: Ông dẫn quân về nơi ngày nay là Lấp Vò (Đồng Tháp), bị quân Tây Sơn truy đuổi, khi đi qua vùng đất ẩm đoàn quân để lại dấu chân rất dễ bị địch lần theo. Đêm đó Nguyễn Ánh khấn rằng “Nếu số mạng của quân ta chưa tận xin hãy lấp dấu chân đi để kẻ địch không thể truy tìm”. Sáng ra thì trời mưa to, mọi vết tích của đoàn quân đều mất. Về sau người ta gọi địa danh đó là Lấp Vò, cách nói trại của lấp giò, ám chỉ lấp dấu chân, dấu giò.
Thời gian ở Đồng Tháp, cho lập hai căn cứ đóng quân là Bảo Tiền và Bảo Hậu (ngày nay là huyện Lai Vung) với mục đích trấn thủ hai vị trí chiến lược dẫn ra sông Hậu và sông Tiền.
Tháng 11 tập hợp một đạo quân mặc toàn áo tang bất ngờ tấn công dinh Long Hồ và sau đó nhanh chóng đuổi quan trấn thủ Tây Sơn tại Gia Định là Tổng đốc Chu (hay Tổng đốc Châu).
Tháng 12 lấy lại thành Gia Định.
Nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức
Năm 1778 (Mậu Tuất) khi 16 tuổi, các tướng tôn làm Đại nguyên soái Nhiếp quốc chính. Được các lực lượng phương Tây như Pháp, Bồ Đào Nha giúp sức. Quân Tây Sơn tiến đánh không được, phải rút khỏi Bình Thuận.
Tháng 2, Tây Sơn phái Tổng đốc Chu, Tư khấu Uy và Hộ giá Phạm Ngạn vào đánh Gia Định, nhanh chóng đánh chiếm các vùng Trấn Biên, Phiên Trấn và một số khu vực ven biển. Đành để Đỗ Thanh Nhơn giữ Gia Định rồi cùng Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Hoằng đi đánh quân Tây Sơn ở khu vực Bến Lức. Tại Bến Lức, quân Nguyễn chặn được Tây Sơn rồi sau đó mở cuộc phản công, ngăn chặn và đẩy lùi được thủy binh Tây Sơn do Tư khấu Uy chỉ huy ở Bến Nghé rồi chiếm lại được Trấn Biên. Thấy tình thế bất ổn, bèn cố công mở mang Phiên An trấn (vùng Sài Gòn – Gia Định – Long An hiện giờ) với mục đích biến vùng này thành căn cứ địa chống Tây Sơn. Cho tổ chức phân chia hành chính đất Gia Định dưới sự cố vấn của Bá Đa Lộc, đặt quan coi giữ, đóng thuyền, trữ lương chuẩn bị, xây dựng chiến lũy phòng thủ và củng cố lực lượng thủy bộ. Trong đó, đặc biệt quan tâm tới thủy binh: ngay sau khi vừa được tôn làm Đại Nguyên soái, ông liền cho đóng ngay 50 chiến hạm đầu nhọn gọi là Long Lâm Thuyền, lại được tham mưu của tướng Đỗ Thanh Nhơn.
Năm 1779 (Kỷ Hợi) khi 17 tuổi, nhân thấy Chân Lạp xảy ra nội loạn do tranh giành ngôi vua, bèn sai Đỗ Thanh Nhơn, Hồ Văn Lân và Dương Công Trừng đi đánh Chân Lạp và giữ quân lại bảo hộ.
Tháng 1/1780 (Canh Tý) khi 18 tuổi, xưng vương, dùng theo niên hiệu Cảnh Hưng của nhà Lê và lấy ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn chi bửu làm ấn truyền quốc, phong cho Đỗ Thanh Nhơn chức Ngoại hữu, Phụ chính, Thượng tướng công.
Tháng 6 sai sứ là Cai cơ Sâm và Tĩnh đi sứ nước Xiêm. Sai Đỗ Thanh Nhơn và Dương Công Trừng đi đánh dẹp tù trưởng Ốc Nha đang lãnh đạo người Miên ở Trà Vinh.
[Nhận thấy Đỗ Thanh Nhơn vì có nhiều công lớn, được trọng đãi; nhưng lại có biểu hiện hung bạo, cậy công, lấn lướt quyền hành, tạo thêm vây cánh thậm chí muốn giành quyền lực. Bèn bàn mưu với tướng Tống Phúc Thiêm để giết Đỗ Thanh Nhơn]
Tháng 3/1781 (Tân Sửu) khi 19 tuổi, cùng Tống Phúc Thiêm lập mưu giả bệnh, gọi Thanh Nhơn đến rồi sai võ sĩ giết chết. Sau đó, để làm suy yếu quân Đông Sơn bèn nhanh chóng đưa ra chính sách chia cắt, nhưng vẫn không ngăn được việc họ làm phản. Đành phải ra sức đánh dẹp mãi, khiến cho Thống binh Tống Văn Phước tử trận.
Tháng 10 (AL) sai Nguyễn Hữu Thụy và Hồ Văn Lân mang quân sang cứu Chân Lạp, đang bị 2 anh em đại tướng của vua Taksin (Xiêm La) là Chakri (Chất Tri) và Surasi (Sô Si) tiến đánh. Khi quân Việt và quân Xiêm còn đang đánh nhau thì ở Xiêm La, vua Taksin, có lẽ bị rối loạn tâm thần, bắt giam vợ con hai tướng Chakri, ở Xiêm lại xảy ra loạn do tướng Phraya San (Phan Nha Văn Sản – Oan Sản) cầm đầu. Hai tướng Xiêm là Chất Tri và Sô si buộc phải thỏa hiệp với Nguyễn Hữu Thụy, thề cứu nhau trong lúc hoạn nạn, rồi rút quân về nước dẹp loạn Phan Nha Văn Sản và giết luôn Taksin. Chất Tri đoạt ngôi, xưng là vua Rama I của Xiêm La, mở đầu nhà Chakri. Chính biến ở Xiêm khiến quan hệ giữa Nguyễn Ánh và Xiêm La thay đổi: từ chỗ đối kháng trở thành đồng minh. Mùa hè, quân đội của Nguyễn Ánh phát triển lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, trong đó có 3 thuyền lớn và 2 tàu đánh thuê Bồ Đào Nha do Giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh mời được. Có lực lượng khá mạnh, ông bèn tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng sau cùng phải rút chạy vì gặp lực lượng bộ binh rất mạnh của Tây Sơn. Tức giận vì tốn kém nhưng không thu được kết quả, quan lại Gia Định để cho một người phụ việc của Bá Đa Lộc là cai cơ Manuel lập mưu giết chết các tay lính đánh thuê Bồ Đào Nha và cướp tàu của họ.
Nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Điện Đô vương/Đoan Nam vương
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức
Tháng 1782 (3/Nhâm Dần) khi 20 tuổi, chỉ huy quân tại sông Ngã Bảy và cửa biển Cần Giờ chặn đánh vua Tây Sơn là Thái Đức đế Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ. Quân Tây Sơn đánh mạnh giết chết cai cơ người Pháp là Manuel (Mạn Hoè), nên bỏ chạy về Hậu Giang, Ba Giồng, rồi trốn sang rừng Romdoul, Chân Lạp.
Tháng (4) Tây Sơn đuổi theo đến Chân Lạp nên lại phải chạy trốn. Được tiết chế dinh Bình Thuận là Tôn Thất Dụ đem Tả chi Trần Xuân Trạch, thuộc tướng là Trần Văn Tự, và thuộc tướng đạo Hòa Nghĩa là Trần Công Chương vào cứu viện, giết được Hộ giá Tây Sơn là Phạm Ngạn ở cầu Tham Lương. Nhờ được dân ủng hộ nên có cơ hội quay trở về Giồng Lữ (Lữ Phụ). Bị đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theo liền cho quân bắt giết và thu giữ được 80 thuyền của Tây Sơn. Bèn quyết định kéo về chiếm lại Gia Định nhưng gặp Nguyễn Huệ dàn binh quay lưng ra sông đánh lại phải bỏ chạy, đượcLưu thủ Thăng và Tiên phong Túy đón về miền Hậu Giang. Sai Nguyễn Hữu Thụy, Trần Xuân Trạch cùng Cai cơ Cao Phước Trí mượn đường Chân Lạp sang Xiêm La cầu viện nhưng quân Chân Lạp lại hợp tác với Tây Sơn và giết các tướng. Đành phải lui về Rạch Giá, Chân Lạp 30 chiến thuyền vây đánh đến Sơn Chiết, lệnh cho Tiên phong Túy chặn quân Chân Lạp. Phần mình lại rút tiếp ra Hà Tiên rồi theo thuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc.
Tháng (5) được Châu Văn Tiếp và Nguyễn Phước Mân đón về khi đã đánh chiếm được Gia Định. Ngay lập tức tìm cách tổ chức lại Gia Định để chống quân Tây Sơn do Đỗ Nhàn Trập chỉ huy, nhưng quân rất yếu ớt vì các thất bại trước, buộc phải sai sứ là Lê Phước Điển và Lê Phước Bình sang Xiêm kết giao trước để đề phòng Tây Sơn, đồng thời ủy thác cho Bá Đa Lộc chuẩn bị trước thuyền bè để khi Tây Sơn đến có đường mà đi. Sau đó, cho các tướng lập các đồn binh trên sông Vàm Cỏ và Gia Định để tăng sức phòng thủ trước Tây Sơn. Tìm cách củng cố tượng binh qua việc sai người đến Đồng Nai, Bà Rịa bắt voi, tăng cường trao đổi voi với các nước Chân Lạp và Xiêm; lấy từ dân cống nạp và thu từ các trận đánh với Tây Sơn. Mặt khác, quan tâm đến việc phong thưởng và đãi ngộ binh sĩ tử trận và có công để cổ vũ tinh thần quân lính: cho lập sở Hoạn dưỡng để chăm sóc thương binh, và xây các đền Hiển Trung, Sinh Trung để thờ cúng binh sĩ tử trận.
Tháng 1783 (2/Quý Mão) quân Tây Sơn tiến đánh. Tướng Nguyễn Phước Mân bị giết chết, Dương Công Trừng bị bắt sống. Tình thế tuyến phòng thủ không ổn, phải bỏ chạy về Ba Giồng cùng tướng Nguyễn Kim Phẩm với tầm 100 quân, về Đồng Tuyên, ra Hà Tiên rồi trốn ra đảo Phú Quốc.
Tháng (4) sai Nguyễn Kim Phẩm làm tiên phong và Nguyễn Huỳnh Đức chỉ huy một đạo quân người Chân Lạp làm hậu ứng, tập hợp cùng các tướng Tôn Thất Dụ, Nguyễn Đình Huyên, Lại bộ Hồ Đồng, Binh bộ Minh, Tham nghị Trần Đại Thể, Tham mưu Trần Đại Huề (con Đại Thể), Hoảng làm Tả chi, Nguyễn Văn Quý làm Hữu chi, quay về đóng quân ở Đồng Tuyên. Nguyễn Huệ lại kéo quân đến đánh phá khiến Đồng bị bắt; còn Minh, Quý, Thuyên và Huề đều chết. Đành chạy về sông Lật Giang (nay là đoạn sông Vàm Cỏ Đông ngang Bến Lức), quân Tây Sơn truy sát, khúc sông nước chảy mạnh, nhiều tùy tùng chết đuối, liền vội vã bơi qua sông. Chạy đến sông Đăng Giang, sông có nhiều cá sấu, không thể bơi qua được, may lúc ấy có con trâu nước đang nằm bên bờ, bèn cưỡi trâu sang sông. Qua được sông. Đến được Mỹ Tho và dong thuyền đem theo mẹ và vợ con ra đảo Phú Quốc. Cùng lúc, sai Tôn Thất Cốc và tướng quân Hòa Nghĩa là Trần Đĩnh trở về cửa biển Cần Giờ dò xét quân Tây Sơn. Nhưng Cốc có mâu thuẫn với Đĩnh nên giết đi, khiến hai thuộc hạ người Hoa của Đĩnh là Tổng binh Trần Hưng và Lâm Húc nổi dậy chiếm giữ Hà Tiên và làm phản. Bèn sai Nguyễn Kim Phẩm lấy lại Hà Tiên và cho Thái trưởng công chúa là Ngọc Đảo lo việc quân nhu. Trần Hưng dẫn quân đánh úp, giết chết Phẩm và công chúa. Trong cơn tức giận, tự mang quân đến đánh khiến Hưng thua chạy. Được Tướng Xiêm là Vinh Li Ma ở đảo Cổ Long mang hơn chục chiến thuyền và 200 quân tới, liền cho tổ chức tầm 2 – 3 đợt cướp vùng Hà Tiên để kiếm khí giới và lương thực cho binh lính.
Tháng (6) cho lui quân ra đóng ở tại đảo Điệp Thạch (hòn Đá Chồng), thuộc Phú Quốc thì thống suất của quân Tây Sơn là Phan Tuấn Thuận bất ngờ kéo quân ra truy kích, tình thế bức bách, tướng Lê Phước Điển phải dùng kế đóng giả mặc áo ngự đánh lạc hướng. Phần mình thì đi thuyền khác thoát chạy ra được đảo Côn Lôn.
Sử liệu chép khác nhau:
Sách Huỳnh Minh ghi rằng là đảo Phú Quốc
Sách Tạ Chí Đại Trường cho là đảo Cổ Long
Sách Thực lục thì lại chép là Côn Lôn
Tháng (7) nơi trốn bị lộ, phò mã Tây Sơn là Trương Văn Đa kéo quân vây đánh 3 vòng trùng trùng điệp điệp. Nhưng lúc này bất ngờ có bão biển, mây mù kín mít, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra và một số bị đánh đắm. Thừa cơ lẻn lên thuyền trốn và sau bảy ngày đêm lênh đênh trên biển, quay ra hòn Cổ Long, Cổ Cốt rồi lại về Phú Quốc. Thời gian này, vì thiếu lương thực các binh sĩ phải đi hái cỏ, tìm củ mà ăn. May sao, có người đàn bà buôn bán ở Hà Tiên tên là Thị Uyển chở một thuyền gạo đến dâng. Thuyền gặp gió, buồm và cột buồm bị hỏng, lại có thuyền buôn đem lá buồm đến dâng. Chính trong thời gian này, với những khó khăn gặp phải và mối quan hệ với Bá Đa Lộc ngày càng thắt chặt, hình ảnh nước Pháp ngày càng lớn dần trong tâm trí, kèm theo đó là lời bày của Bá Đa Lộc khiến bắt đầu nảy sinh ý định cầu viện Pháp. Hay tin Bá Đa Lộc đang ở Chan Bô (Chanthaburi, Xiêm La), liền cho mời đến Phú Quốc và nhờ ông này làm sứ giả nhằm nhờ nước Pháp mang quân sang giúp. Giao cho Bá Đa Lộc một tờ quốc thư 14 khoản cầu viện Pháp và cả quốc ấn để vị Giám mục này được toàn quyền thay mặt để sang Pháp cầu viện triều đình vua Louis XVI. Đi kèm với Bá Đa Lộc là người con cả là Nguyễn Phúc Cảnh (để làm con tin) và Phó vệ úy Phạm Văn Nhân và Cai cơ Nguyễn Văn Liêm. Tiễn đoàn sứ giả, rồi cũng từ biệt gia đình tiếp tục tìm cách quay lại Gia Định qua cửa biển Ma Ly (thuộc Bình Thuận ngày nay), quân Tây Sơn đưa hơn 20 chiến thuyền đuổi bắt, bèn phải giăng bồm chạy sang hướng đông, lênh đênh hơn 7 ngày đêm mới thoát được về Phú Quốc. Sau đó cùng Cai cơ Võ Văn Chính quay về khu vực Long Xuyên (nay là Cà Mau) tập hợp quân đợi sẵn. Thuyền về tới cửa biển Đốc Công (sông Ông Đốc) bắt giết được tướng Tây Sơn là Quản Nguyệt.
Tháng (8) bắt được một chiến thuyền Tây Sơn và biết tin Lưu thủ Tây Sơn là Nguyễn Hóa đã đem 50 chiến thuyền ngầm phục kích ở của biển Đốc Công. Vội vã chạy nhanh ra biển khi Hóa đuổi theo phía sau. Chạy kịp ra hòn Chông, rồi sang đảo Thổ Châu (Thổ Chu), vì liên tiếp gặp những thất bại trước quân Tây Sơn, lại nhận tin tướng thân tín là Châu Văn Tiếp đã chạy sang Xiêm, nên có ý chuyển sang cầu viện Xiêm La.
Tháng 5/1784 (2/Giáp Thìn) cho người đưa mẹ và vợ sang đảo Thổ Châu, trú ở Long Kì (hay Đồng Khoai, Vọng Các). Nhận được thư của Châu Văn Tiếp, thân tướng là Nguyễn Văn Thành hết sức can ngăn việc cầu viện nước ngoài. Nhưng không màng, vẫn quyết định tới Long Xuyên hội kiến tướng Xiêm La là Thát Xỉ Đa; rồi cùng 30 viên quan là Tôn Thất Hội, Trương Phước Giáo, Hồ Văn Bôi, Lưu Văn Trung, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Văn Huấn, Trần Văn Xạ, Nguyễn Văn Tồn (người Khmer), Bùi Văn Khoan, Lê Thượng và Nội trù Nguyễn Văn Hội và mấy chục tướng sĩ sang Xiêm La.
Tháng (3) hội kiến vua Xiêm tại Vọng Các (Bangkok). Vua Xiêm Rama I đồng ý giúp để phân tán lực lượng Tây Sơn.
Tháng 6 trở về đánh Gia Định. Được vua Xiêm cử hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền sang giúp. Ngoài ra còn có 3 vạn quân bộ tiến sang Chân Lạp với danh nghĩa giúp vua Chân Lạp, thực chất với ý đồ tạo gọng kìm phía Tây, chờ cơ hội tiêu diệt quân Tây Sơn.
Tháng 7 liên quân Nguyễn Ánh – Xiêm La đánh bại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Hóa ở sông Trấn Giang, lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc. Cho Mạc Tử Sinh làm Tham tướng giữ Hà Tiên.
Tháng 10 rất thất vọng khi quân Xiêm ỷ thế làm đủ điều tàn bạo với dân chúng, hơn nữa Châu Văn Tiếp lại tử trận khi đánh nhau với quân Tây Sơn.
Tháng 11 chiếm được các đồn Ba Lai, Trà Tân. Thái giám Lê Văn Duyệt cùng đến hội quân.
Ngày 20/1/1785 (đêm 9 rạng 10/12/Giáp Thìn) cùng quân Xiêm lợi dụng thủy triều xuôi theo dòng sông để tấn công Mỹ Tho nhằm phá vỡ đội thuyền phòng thủ của Tây Sơn. Quân Tây Sơn thua rút dần về hướng Mỹ Tho. Thắng thế tiến vào đoạn Rạch Gầm-Xoài Mút, bất ngờ quân Tây Sơn sử dụng pháo bắn uy hiếp dữ dội ở cù lao Thới Sơn và bờ sông Tiền, vào thế “tiến thoái lưỡng nan”, đội hình rối loạn, tinh thần hoang mang rồi tan vỡ. Phần mình liền chạy ra đảo Thổ Chu rồi về Cổ Cốt được Cai cơ Trung đón sang Xiêm. Bị thua mất mấy ngàn quân và 2 vạn quân Xiêm. Ngày 25 gửi thư than phiền với giáo sĩ J. Liot rằng: Nay thì Xiêm binh tự do cướp giật, cưỡng hiếp phụ nữ, cướp bóc tài sản, giết bừa không tha già trẻ. Vậy nên, giặc Tây Sơn ngày một mạnh, thế quân Xiêm ngày một suy. Sau vụ Rạch Gầm-Xoài Mút , không còn trông mong gì vào Xiêm nữa vì “họ (Xiêm La) sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”. Cùng Lê Văn Duyệt trốn đi Trấn Giang với vài chục người. Sai Mạc Tử Sinh và Cai cơ Trung (cậu Châu Văn Tiếp) sang Xiêm trước báo tin, còn mình thì theo đường thủy qua đảo Thổ Châu rồi về Cổ Cốt với một nhóm nhỏ quân tướng. Thời gian này, cuộc sống nhiều khốn khổ, được Nguyễn Văn Thành đi làm ăn cướp để kiếm thêm lương thực và bị đánh suýt mất mạng.
Tháng (3/Ất Tỵ) phải chạy sang đảo Cổ Cốt vì quân Tây Sơn đuổi tới đảo Thổ Châu. Được Cai cơ tên Trung đem binh Xiêm đến đưa về Vọng Các, Xiêm La.
Tháng (4) tới Xiêm, được vua Xiêm cho trú tại khu vực Samsen và Bangpho (Đồng Khoai hoặc Long Kỳ, nay thuộc nội thành Bangkok).
Tháng (5) nhận 600 quân từ Lê Văn Quân mang đến. Binh tướng từ Gia Định nghe tin kéo sang và lực lượng tụ tập lại được khoảng 1000 người.
Được người Xiêm gọi tên là Ong Chiang Su (องเชียงสือ, Chiang Sue).
Cho tổ chức lại binh tướng trên đất Xiêm rồi lâu lâu cho quân đột kích về Gia Định.
Nhà Lê – Chiêu Thống
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương/Án Đô vương
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức
Tháng 2/1786 (Bính Ngọ) cùng tướng Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành giúp vua Xiêm Rama I đánh quân Miến Điện ở đất Sài Nặc. Vua Xiêm cảm tạ và lại cho mượn quân sang đánh lấy lại Gia Định nhưng thấy Nguyễn Văn Thành can ngăn nên cũng từ chối.
Năm 1787 (Đinh Mùi)
Nngười Bồ Đào Nha tên Ăng Tôn Nui đến gặp và dâng quốc thư và nói rằng Hoàng tử Cảnh có nhờ nước Bồ Đào Nha giúp, đã chuẩn bị được 56 tàu chiến ở Goa, mời sang đất thuộc địa của Bồ Đào Nha. Liền cử sứ giả đi thăm dò nhưng do thấy vua Xiêm không hài lòng nên rốt cục không hợp tác.
Tháng 11 thấy vua Xiêm Rama I ngày càng tỏ ra không vừa lòng vì lực lượng quân Nguyễn trở nên quá mạnh. Khước từ chuyện làm thông gia với vua Xiêm rồi lẻn bỏ về Phú Quốc trong đêm.
Ngày 25/1 Bá Đa Lộc đã thay mặt ký Hiệp ước Versailles (1787) với Pháp. Theo đó, vua Pháp đồng ý cử sang 4 chiếc tàu chiến và một đạo binh: 1.200 lục quân, 200 pháo binh, 250 lính da đen ở Phi Châu (Cafres) và đủ các thứ súng ống thuốc đạn để đánh Tây Sơn. Ngược lại, sau khi chiến thắng, phải nhường cho nước Pháp cửa Hội An (Faifo) và đảo Côn Lôn (Poulo-Condore), chủ quyền các vùng đất đó sẽ thuộc về nước Pháp ngay lúc quân đội Pháp chiếm đóng hòn đảo nói trên.
[Đúng lúc đó thì nước Pháp xảy ra Cách mạng, vua Pháp không thực hiện Hiệp ước nhưng Bá Đa Lộc đã kêu gọi các thương nhân người Pháp trợ giúp. Các hoạt động quyên góp tiền sau này hay xây dựng, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hòa, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh và rèn luyện tập binh lính theo lối châu Âu, trung gia mua tàu chiến và vũ khí… đều có sự góp sức của những người Pháp mà do Bá Đa Lộc chiêu mộ, kêu gọi]
Tháng (7) cảm thấy nội bộ Tây Sơn xảy ra tranh chấp giữa anh em Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ khiến việc phòng bị ở Gia Định bị lỏng lẻo, liền viết thư cảm ơn vua Xiêm Rama II rồi cùng gia quyến lên thuyền bỏ về hòn Tre (Trúc Dữ). Sau đó sang đảo Cổ Cốt rồi cho mẹ và vợ con ở đảo Phú Quốc. Rồi đi tiếp và chiếm đất Long Xuyên (Cà Mau).
Tháng 9 tiến đến cửa biển Cần Giờ. Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó với quân Thanh tại Bắc Hà (1788-1789), vùng Gia Định dưới quyền Tây Sơn cũng không ổn định, quân Tây Sơn bị cô lập trước dân chúng địa phương vốn có nhiều cảm tình với Chúa Nguyễn nói chung và bản thân nói riêng. Tướng Tây Sơn giữ Long Xuyên là Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương ra hàng. Lại thu nhận được nhiều binh lính ở địa phương; sau đó bắt đầu tổ chức tấn công Tây Sơn. Đánh với Phạm Văn Tham đang giữ thành Sài Gòn nhưng không được vì có sự hậu thuẫn của Nguyễn Lữ đang đắp luỹ ở Lạng Phụ (Biên Hoà). Bèn phải dùng kế ly gián Nguyễn Lữ. Làm giả một bức thư của Nguyễn Nhạc gửi cho Nguyễn Lữ, nội dung là lệnh giết Phạm Văn Tham, rồi giả vờ gửi cho Tham. Khiến Tham kéo quân đến phân trần với Lữ, Lữ tưởng lầm Tham đã đầu hàng kéo quân đánh mình, liền rút về Quy Nhơn. Bằng cách đó đã chiếm được Gia Định. Sau nhiều lần tiến quân khiến quân Tây Sơn ở Gia Định yếu đi, nhưng có lần vẫn phải lui về thủ ở Hồ Châu (cù lao Hổ). May sao tướng Tây Sơn là Nguyễn Kế Nhuận ở sông Ba Việt mang 10 chiến thuyền đến hàng. Lê Văn Quân lại đánh thắng Tây Sơn ở sông Ba Lai rồi tiến chiếm Mỹ Tho. Điều quân củng cố thế đứng ngay khi chiếm được Mỹ Tho: cho thành lập các dinh trấn để các tướng quản lý, và tổ chức lại quân đội. Thế nhưng Phạm Văn Tham lại tấn công Mỹ Tho, quân thiệt hại chỉ còn hơn trăm người và vài chục chiến thuyền chạy về Hổ Châu. Bèn sai Nguyễn Văn Tồn chiêu dụ thêm người Khmer ở xứ Trà Ôn và Mân Thít để làm lính, gọi là đồn Xiêm binh (sau đổi thành đồn Uy Viễn).
Tháng (10) Hồ Văn Lăn đánh Tây Sơn ở sông Lương Phú, có cơ hội kéo đến đóng quân ở sông Mỹ Lung. Ngăn được đợt tiến quân của Phạm Văn Tham và Nguyễn Văn Hưng. Cùng lúc nhận được nhiều quân tướng theo, đẩy lùi Phạm Văn Tham và đóng quân tại Nước Xoáy (Hồi Oa).
Nhà Lê – Chiêu Thống
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức/Quang Trung
Tháng 1788 (4/Mậu Thân) Võ Tánh đem hơn 1 vạn quân xin theo. Cho quân dời đồn đóng quân tới Bát Tiên (Vĩnh Long).
Tháng 7 tiến quân đóng ở Ba Giồng.
Tháng 8 từ Ba Giồng tiến đánh Gia Định, đến Nghị Giang thì gặp Phạm Văn Tham dàn quân ở chợ Điều Khiển và chợ Khung Dung chống lại. Sai Võ Tánh đánh vòng phía nam, thẳng vào Bến Nghé. Còn mình điều quân lấy lại thành Gia Định và tổ chức lại công việc trong thành. Cho lập kho Bốn Trấn làm kho chung cho các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh và Định Tường để thu thuế và làm ngân quỹ cấp lương bổng cho quan lại.
Tháng 10 cho người bắt tráng đinh thành lập các phủ binh. Đưa nhiều người Pháp vào huấn luyện quân đội (như Jean-Marie Dayot được phái huấn luyện chiến thuật cho thủy binh. Có khoảng tổng cộng 4 sĩ quan 80 binh sĩ người Pháp tham gia đánh trận, chủ yếu ở vai trò trợ chiến dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh người Việt). Giao vũ khí mà các thuyền buôn của người Châu Âu mang đến cho các quan chỉ huy quân sự ở Trấn Biên mua lại bằng đường cát.
Tháng 6/1789 (Kỷ Dậu) đón Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh trở về Gia Định. Sau đó, các tàu buôn chở súng ống thuốc đạn cũng lục tục sang sau (những người Pháp gồm Jean-Baptiste Chaigneau, Philippe Vannier, De Forcant, Olivier de Puymanel, Jean-Marie Dayot v.v.. cả thảy đến non 20 người theo Bá Đa Lộc sang gia nhập). Những người Pháp này giúp sức trong việc tiến hành du nhập kỹ nghệ, và xây dựng, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hòa, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh và rèn luyện binh lính theo lối châu Âu, trung gian mua tàu chiến và vũ khí…
Tháng 7 cho Lê Văn Quân vây đánh Phạm Văn Tham ở Hổ Châu, Phạm Văn Tham phải trở lại Ba Xắc rồi sau đó đầu hàng.
Tháng 9 tổ chức lại chính quyền bằng cách lựa các viên tham mưu quân đội chuyển qua các bộ lập thành một triều đình, đồng thời cho tăng cường phát triển giáo dục, mở khoa thi, thu dùng các nhân sĩ người Việt và Minh Hương đã cùng theo trước đó. Nhiều sĩ phu lục tục ra giúp, trong đó có nhóm học trò của nhà nho Võ Trường Toản. Tiếp theo, đưa ra chính sách lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng trên cơ sở số lớn đất đai phì nhiêu nhưng lại bị bỏ hoang nhiều vì cộng đồng di dân chưa định hình và chiến tranh liên miên ở vùng Gia Định. Cho đặt nhóm quan điền toán gồm 12 người (một số vị nổi bật là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu, Hoàng Minh Khánh) để đi bốn dinh miền Nam là Phiên Trấn, Trấn Biên, Trấn Vĩnh, Trấn Định đốc thúc nhân dân làm việc nông nghiệp, phàm ai lười biếng sẽ bị bắt sung quân. Ngoài ra, còn đề ra chính sách là nếu người hoặc nhóm người làm ruộng đất tốt thu trên 100 thùng lúa, còn ruộng đất xấu thu trên 70 thùng lúa thì sẽ được thưởng như sau: dân thường sẽ được miễn việc xâu (những việc quan lại cần nhân công địa phương làm như đào kênh, đắp thành) một năm; phủ binh thì sẽ được miễn đi đánh nhau một năm. Những người dân lậu (người không ở trong sổ bộ quản lý của địa phương) cũng có thể làm ruộng dưới sự quản lý của quan điền toán và được xem như là một người lính; nếu như họ thiếu vốn thì cũng có thể được cho vay trả sau. Ra lệ thuế cho các quan coi đạo Trấn Biên, Trấn Định và Vĩnh Trấn phải dự trên số phu cục tượng và các đội nậu biệt nạp phải nộp như sau: 40 người phải nộp đủ gỗ đóng một chiếc sai thuyền; và kết quả của chính sách là đạo Long Xuyên nộp 10 chiếc, Kiên Giang 3 chiếc, và Trấn Giang là 5 chiếc. Để tăng năng suất lấy gỗ, liền cấp cho đội lấy gỗ 300 quan tiền mua 300 con trâu chuyên dùng kéo gỗ từ rừng Quang Hóa (thuộc Tây Ninh ngày nay). Thợ đóng được 40 chiếc thuyền và 100 chiếc thuyền biển; hai năm sau đóng thêm được 100 chiếc với gỗ ván lấy từ rừng Quang Hóa và rừng Chân Lạp. Nghe tin Lê Chiêu Thống mời quân Thanh sang đánh Tây Sơn, bèn Phạm Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư khích lệ và chở 50 vạn cân gạo ra giúp quân Thanh, nhưng thuyền đi giữa đường bị đắm hết.
Tháng 1790 (4/Canh Tuất) Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân mang 6.000 quân thủy bộ ra đánh chiếm được Phan Rí và Bình Thuận. Sau đó, Lê Văn Quân đóng giữ Phan Rang, Nguyễn Văn Thành giữ Chợ Mơ (Mai Thị), Võ Tánh giữ Phan Rí. Nguyễn Ánh sau đó gọi Nguyễn Văn Thánh và Võ Tánh rút binh về.
Tháng 6 Đô đốc Tây Sơn là Hồ Văn Tự mang hơn 9.000 quân vây đánh Phan Rang, Lê Văn Quân phải về Ỷ Na cố thủ, cầu cứu Nguyễn Ánh.
Tháng 7 cùng năm, quân Tây Sơn bao vây Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành trong thành Phan Rí, Nguyễn Ánh lệnh cho Nguyễn Huỳnh Đức và Võ Tánh giải cứu. Sợ Tây Sơn lại đánh Bình Thuận, Nguyễn Ánh cho rút quân về Gia Định, cho Lê Văn Quân về giữ Hưng Phước.
Tháng 10 thi hành phép Ngụ binh ư nông
Huy động binh lính vào việc sản xuất nông nghiệp, được khuyến khích cày cấy để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh. Nhóm trung quân và các nhóm thủy quân được cử đến khai thác vùng Thảo Mộc Câu (sông Vàm Cỏ ngày nay) lập ra trại Đồn Điền dưới sự chỉ huy của Chánh cơ Nguyễn Bình. Trại này được nhà nước trợ cấp dụng cụ và giống cây, phần thu hoạch được sẽ sung vào kho công. Các quan địa phương khác cũng phải lập đội đồn điền và nộp thuế theo hạn mức 6 hộc lúa mỗi người trong đội; bất cứ ai tuyển được 10 người trở lên sẽ được làm quan quản trại và trừ tên trong sổ làng (tức là khỏi đi lính). Số lúa gạo thu được từ các đồn điền này được giữ trong một kho gọi là kho Tích Trữ (về sau đổi thành kho Đồn Điền hay Đồn Điền khố theo âm Hán – Việt).
Lệnh cho dinh Trấn Biên và Phiên Trấn mộ dân lập nậu dầu rái với định mức thuế 8 vò dầu, cho miễn lao dịch chỉ phải nộp thêm thuế thân; Thành lập các nậu dầu trám với lệ thuế 800 cân dầu trám, 1 cây đèn lớn và 40 cây đèn nhỏ, cho miễn lao dịch chỉ phải nộp thuế thân. Các nậu buồm lá ở Trấn Biên và Phiên Trấn hằng năm phải nộp 80 bó buồm. Viết quốc thư với đại ý “cảm ơn nước Pháp”, nhưng không còn cần họ giúp theo hiệp ước Versailles năm 1787 đã ký trước đây nữa. Đồng thời với việc trên là công cuộc giao thiệp với ba nước lớn Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng: cho quân chiếm đóng Chân Lạp, giữ quan hệ hòa hiếu với Xiêm La để yên ổn với Vạn Tượng (khi này trong tầm khống chế của Xiêm La), ngoài ra còn có quan hệ với một ít quốc gia nhỏ khác.
Năm 1791 (Tân Hợi) đặt một lệ về việc khẩn hoang rằng ba năm đầu từ ngày khẩn hoang sẽ miễn thuế. Ai muốn khẩn hoang phải nộp đơn trước 20 ngày, sau hạn này ruộng sẽ giao cho binh lính, dân chúng không được quyền tranh chấp nữa. Lệnh cho người Hoa ở Long Xuyên ai làm ruộng không có đồ dùng thì nhà nước cho vay, ai không làm ruộng thì phải đi phu dịch. Người Khmer và người Hoa ở phủ Ba Xắc và Trà Vinh được phép khai hoang đất nhưng phải nộp thuế. Ở Ba Xắc, cho Ốc Nha Lá làm quan phủ cai quản người Khmer, Lâm Ngũ Quan cai quản người Hoa. Ở Trà Vinh, Lư Việt Quan cai quản người Hoa. Đồng thời, cấm dân Việt tranh giành đất của người Khmer ở Ba Xắc và Trà Vinh. Ngoài ra thì chính sách đối xử cũng giống người Việt: cũng phải nộp thuế, đi lính. Quy hoạch lại nghề thủ công ở vùng Gia Định: cho quy hoạch ra 64 ty thủ công gồm đủ các loại ngành nghề được phân bố khắp các dinh. Khu vực Sài Gòn có sở Nhà Đồ gồm 22 ty trong đó có các ty thợ mộc, thợ sơn, thợ cưa (các ty này là cơ sở quan trọng cho phát triển thủy quân, đề ra chính sách đãi ngộ thợ trong các ty này như là lính chính thức, họ được ăn lương và miễn sưu thuế hằng năm; chỉ phải có lễ mừng cho các quan sở tại). Bên cạnh các ty, còn có tổ chức các đội chuyên trách phục vụ cho các ty và tổ chức gọi là “nậu” gồm dân thợ cùng nghề ở các vùng dân cư hẻo lánh, chưa nên thôn xóm. Đối với các “nậu”, chính quyền chỉ kiểm tra và thu thuế và thành viên của các nậu chỉ phải trả thuế thân và nộp sản phẩm thay cho sưu dịch. Lệnh lập các nậu dầu rái ở đạo Long Xuyên với lệ thuế 5 vò dầu và 100 cây nến, miễn hẳn thuế thân.
Nhà Lê – Chiêu Thống
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung/Cảnh Thịnh
Tháng 6/1792 (Nhâm Tý) biết Nguyễn Nhạc tập trung nhiều chiến thuyền ở của biển Thị Nại mà ít phòng bị, liền lợi dụng mùa gió Nam, cho hai tướng Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành và hai sĩ quan đánh thuê người Pháp là Dayot và Vannier đi trước, tiến quân đánh và đốt phá thủy trại Tây Sơn tại Thị Nại rồi rút về.
Tháng 7 đến đóng quân ở Phan Rang, sau lại về Gia Định. Lê Duy Cận ở Bắc Hà đến xin cùng đánh Tây Sơn. Nhân lúc nhà Tây Sơn lục đục nội bộ, liền mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo nguyên tắc đã định trước đó: “Gặp nồm thuật thì tiến, vãn thì về, khi phát thì quân lính đủ mặt, về thì tản ra đồng ruộng”.
Trong dân gian còn lưu truyền một câu ca dao lục bát: Lạy trời cho cả gió nồm,/Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.
Năm 1793 (Quý Sửu) cho mua một chiến hạm cũ của Châu Âu rồi sai người gỡ ra để sao chép lại. Đích thân giám sát việc đóng những chiếc thuyền theo kiểu này. Nhờ vậy nên trong năm, quân Nguyễn đóng được những chiến hạm nổi tiếng là Long Ngư, Long Thượng, Long Hưng, Long Phi, Bằng Phi, Phụng Phi, Hồng Nhi, Loan Nhi, Ưng Nhi (trong này quan trọng nhất là ba chiếc Long Phi được trang bị đến 32 khẩu đại bác, Phụng Phi và Bằng Phi có 26 khẩu) với sức chứa trên 300 người mỗi thuyền.
Tháng 4 (AL) cùng các tướng Võ Duy Nguy, Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Hội, Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hòa, Chưởng cơ Cố đem đại quân tiến đánh, lần lượt chiếm được Phan Rang, Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên rồi tranh thủ đánh Thị Nại, tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc.
Tháng 8 (AL) quân Tây Sơn đánh mạnh nên rút lui. Trên đường về Gia Định, sai quân đắp thành Diên Khánh để Nguyễn Văn Thành giữ, còn Bình Khang để Nguyễn Huỳnh Đức giữ.
Tháng 11 (AL) sai con là Đông cung Thái tử Cảnh ra giữ Diên Khánh, gọi Thành và Đức về. Liên kết với vua Xiêm mở thêm một cánh quân từ phía Tây: yêu cầu vua Xiêm cho Nguyễn Văn Thoại (vốn đang đi sứ ở Bangkok) sang Vạn Tượng nhằm cùng với nước này phối hợp đánh Tây Sơn và vua Xiêm đồng ý.
Ngày 23/5/1794 (Giáp Dần) thấy Tây Sơn rút lui, liền cho quân đuổi theo truy kích tới tận đầm Thị Nại và dồn ép mạnh quân Tây Sơn.
Tháng 8 cho Thái tử Cảnh về Gia Định.
Tháng 9 trở về Gia Định, để một mình Võ Tánh ở lại giữ Diên Khánh.
Năm 1795 (Ất Mão) quân Tây Sơn kết giao với vua Xiêm. Lấy mối quan hệ từ trước, định lên kế hoạch ngầm cùng vua Xiêm đánh lại Tây Sơn, nhưng không thành vì Xiêm đang bận đối phó quân Miến Điện. Đành quay về phòng thủ ra sức chống cự, nhiều lần kìm hãm, thậm chí là đánh lại được quân Tây Sơn nhưng vẫn không ngăn được dòng tiến quân của Tây Sơn. Bị tướng Lê Trung tiến đánh chiếm được đến tận Phan Rí.
Tháng (2) ra sức phản công: cho Thái tử Cảnh giữ Gia Định, chia các tướng trấn giữ nhiều nơi nhằm kiềm hãm Tây Sơn rồi tự mình đem binh đi cứu Diên Khánh, có lúc đánh ra tận Phú Yên để tạo gọng kiềm kẹp quân Tây Sơn.
Tháng 4 chỉ tạo ra thế giằng co qua lại ở các khu vực Ninh Thuận – Khánh Hòa; trong khi thành Diên Khánh vẫn bị Tây Sơn vây chặt.
Tháng 8 cho Tôn Thất Hội ở lại giữ Diên Khánh, còn mình kéo hết quân về Gia Định.
Năm 1796 (Bính Thìn) cho đóng thêm 15 chiến hạm hiệu là “Gia” và xếp theo tam tài cùng thập nhị chi: Thiên, Địa, Nhân, Tý, Sửu, Dần, Mão… cho đến Tuất, Hợi là đủ 15 chiếc.
Tháng 1797 (3/Đinh Tỵ) dẫn đại quân ra đánh Quy Nhơn. Nguyễn Văn Trương đánh được Tây Sơn ở Phú Yên, còn Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành đánh chợ Hội An (có lẽ chợ Hội An thuộc Phú Yên chứ không phải Hội An ở Quảng Nam). Riêng mình ra tận Quy Nhơn giao tranh với Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới. Nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế Tây Sơn thủ mạnh quá, nên vòng lên đánh Đà Nẵng rồi Hải Vân. Quân Nguyễn định đánh lấy Chiêm Dinh (dinh Quảng Nam), quân Tây Sơn tập trung đông ở Đà Nẵng để phòng giữ. Nhưng được mấy tháng, quân Nguyễn lại rút về vì thuyền chở quân lương từ Gia Định bị ngược gió không lên kịp. Thời gian này, cho người dụ hàng Quang Bảo nhưng việc chưa thành thì Quang Toản ra tay trước, bắt và giết được Quang Bảo. Tuy nhiên, Tây Sơn lại rơi vào lục đục, nhiều người tạo phản.
Tháng 8 sai Trần Phước Chất sang Xiêm bàn việc phối hợp với quân Xiêm đánh Nghệ An, Thuận Hóa bằng đường thượng đạo từ Vạn Tượng.
Tháng 2/1798 (Mậu Ngọ) sai Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương dẫn thủy quân sang giúp Xiêm đánh Miến Điện và bàn việc quân.
Năm 1799 (Kỷ Mùi) thống nhất lệ thuế tất cả các vùng thành 6 vò dầu rái, 50 cây đèn cầy và nửa cây đèn lớn.
Tháng 2 sai Nguyễn Văn Thụy (Thoại) và Lưu Phước Tường sang Xiêm La, nhờ Xiêm cho một đạo quân Chân Lạp và Vạn Tượng đi đường núi đến sát biên giới Nghệ An để nghi binh và vua Xiêm đồng ý làm theo. Thuận với kế của Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường, cho sứ đi ngoại giao với nhà Thanh, với mục đích lợi dụng mâu thuẫn và thù hằn của quốc gia này với Tây Sơn, và cả sự có mặt của Lê Chiêu Thống ở Trung Quốc để khiến nhà Thanh giúp mình. Nhưng việc không thành do sứ giả là Ngô Nhơn Tĩnh và Phạm Thận sang đến nơi thì Lê Chiêu Thống đã mất.
Tháng (3) tự cầm đại quân đi đánh thành Quy Nhơn, quân Nguyễn lợi dụng lúc này Tây Sơn đang lục đục để tiến quân nhanh chóng, đánh chiếm các vùng xung quanh rồi tới vây thành Quy Nhơn, đích thân dựa thế thủy binh có lúc tiến ra tận Quảng Ngãi. Đô đốc Tây Sơn là Lê Chất ra hàng.
Tháng (6) truy sát tướng Võ Văn Dũng và Trần Quang Diệu ở Tân Quan. Các quan tướng giữ thành Quy Nhơn của Tây Sơn là Vũ Tuấn, Lê Văn Thanh, Trương Tấn Thúy và Nguyễn Đại Phác vì thiếu lương nên cầm hơn 1 vạn quân mở cổng thành đầu hàng. Chiếm được thành Quy Nhơn, bèn đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định, rồi cho quân tới trấn giữ thành. Đồng thời cũng tìm cách thu phục dân chúng vùng Quy Nhơn vì đây là đất phát tích của Tây Sơn: dùng chính sách tha thuế của Tây Sơn, trọng dùng hàng binh và ra tay trừng phạt nặng các tướng lĩnh dưới quyền hà hiếp dân chúng vùng này. Thế nhưng các tướng phòng thủ như Võ Tán, Phạm Văn Điềm không chống nổi lại liên tục ra hàng hai đại tướng Tây Sơn là Thiếu phó Trần Quang Diệu và Tư đồ Vũ Văn Dũng.
Năm 1800 (Canh Thân) cho đóng thêm 15 chiếc thuyền biển.
Tháng 1 cho quân ra cứu giải vây thành Quy Nhơn, nhưng Trần Quang Diệu đóng bộ binh ở Thạch Tân chặn lại bèn chia quân đánh các nơi.
Tháng (2) lệnh cho Chân Lạp đưa 5.000 lính và voi sang giúp.
Năm 1801 (Tân Dậu)
Có thêm 200 hạm thuyền có tên là Anh, Vũ, Thước, Nga, Quyên, Phu, Lệ, Diên, Chiêu, Ly. Mỗi 2 năm đã đóng thêm gần được 300 pháo hạm và 10 năm thì tổng số thuyền lên được gần 1.200 chiếc.
Tháng (Giêng) cho thủy quân tấn công Thị Nại, tiêu diệt hoàn toàn thủy quân Tây Sơn do Vũ Văn Dũng chỉ huy. Tuy nhiên, Tây Sơn vẫn còn vây chặt thành Bình Định. Nhận thấy quân Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, bèn cho người lẻn mang thư đến bảo tướng quân Nguyễn giữ thành là Võ Tánh mở đường máu mà trốn ra nhưng Võ Tánh kiên quyết tử thủ để tạo đều kiện cho đánh Phú Xuân. Nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quân chủ lực vượt biển ra đánh phía bắc.
Tháng 3 quân Nguyễn chiếm được Quảng Nam.
Ngày (1/5) kéo quân đánh nhau dữ dội với Tây Sơn ở cửa Tư Dung. Ngày (2) quân Nguyễn đụng độ và bắt được Phò mã Tây Sơn Nguyễn Văn Trị và Đô đốc là Phạm Văn Sách, rồi tiến vào cửa Eo, Quang Toản bỏ chạy ra Bắc Hà. Ngày (3) giành được Phú Xuân. Sau đó sai Lê Văn Duyệt và Tống Viết Phước theo đường bộ và thủy về cứu thành Bình Định. Nghe tin Quang Toản bại trận ở Phú Xuân, Trần Quang Diệu đang vây thành Bình Định sai quân về cứu nhưng đụng độ quân Nguyễn của Lê Văn Duyệt đang xuống phía nam nên quân không về được. Trong khi đó, Võ Tánh và Ngô Tòng Châu cùng các tướng giữ thành Bình Định thấy đã cạn kiệt lương thực, biết không chống nổi Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng, nên tự sát để bảo toàn tính mạng cho quân lính trong thành. Tây Sơn tái chiếm thành Bình Định. Tuy bị mất thành Bình Định nhưng vẫn tập trung phần lớn binh tướng đối phó với cuộc phản công của Quang Toản ở phía bắc, khi vua Tây Sơn dốc toàn lực ở Bắc Hà được hơn 3 vạn quân kéo vào để chiếm lại Phú Xuân và giúp Trần Quang Diệu. Bắt và giết 1 người con của Nguyễn Huệ.
Năm 1802 (Nhâm Tuất)
Nhà Nguyễn – Gia Long 1
Nạn đói lớn ở Gia Định. Sai lấy kho gạo quân ra phát cho dân và cho giảm thuế ruộng ở Gia Định. Cũng đồng thời bên Xiêm La có hạn hán, liền cho xuất 8.800 vuông gạo để giúp.
Mời quan nhà Lê là Nguyễn Nễ ra giúp. Nguyễn Nễ dâng sớ tâu, cảm mến tài và kính trọng dòng dõi nên cho làm cố vấn ngoại giao dưới quyền Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành ở Bắc Thành.
Tây Sơn theo đường biển và đường bộ đánh vào Phú Xuân. Nguyễn Quang Thùy dẫn thuyền chiến tới cửa Nhật Lệ thì bị Nguyễn Văn Trương chặn đánh. Bùi Thị Xuân thúc voi dẫn quân Tây Sơn đánh nhau với quân Nguyễn ở Trấn Ninh, quân Tây Sơn nghe tin bị thua ở ngoài biển thì hỗn loạn, tan vỡ. Quang Toản chạy về Quảng Bình.
Ngày 1/1 tiến hành chặn đánh quân Tây Sơn ở sông Gianh, Quang Toản thua lớn bỏ chạy ra Bắc Hà. Trên đà thắng lợi sai Lê Văn Duyệt điều quân 3 mặt đánh vào Quy Nhơn. Trần Quang Diệu cùng Vũ Văn Dũng nghe tin Quang Toản đã bại trận, phải bỏ thành, mang quân ra cứu viện Nghệ An. Bị quân Nguyễn chặn đường, quân Tây Sơn buộc phải vòng qua đường Vạn Tượng (Lào). Lúc tới Nghệ An thì thấy thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, bắt vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân. Riêng Vũ Văn Dũng không rõ số phận. Ngày 5 làm lễ tế trời đất để lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long, ra chiếu tuyên cáo đế vị với thiên hạ:
– Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống… Nay ơn trời giúp đỡ, các thánh để phúc, bờ cõi cũ đã lấy lại, cơ nghiệp xưa đã trở về, các quan văn võ tại triều dâng sớ chương khuyên ta lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu… Vậy nên chuẩn lời xin đặt niên hiệu mới, định lấy ngày mồng 1 tháng 5 năm nay kính cáo trời đất, ngày hôm sau kính cáo liệt thánh, chép niên hiệu là Gia Long, để thống nhất kỷ cương, làm mới tai mắt”
Tháng (6) tiến ra chiếm được Thăng Long, Quang Toản không chống nổi, bỏ chạy và sau đó bị bắt. Nhà Tây Sơn bị tiêu diệt.
Ngày 1/12 (Giáp Tuất 7/11) tiến hành làm lễ Hiến Phù (獻浮, nghĩa là lễ dâng tù) ở Thái Miếu nhằm báo công với tổ tiên; và nhân đó tiến hành trả thù gia đình Quang Toản và những người theo Tây Sơn: Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt, 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì; Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục; Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày. Sai người áp giải Bùi Thị Xuân đến trước mặt rồi hỏi:
– Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?
Bùi Thị Xuân trả lời:
– Chúa công ta (chỉ Nguyễn Huệ), tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà ngươi thì đi cầu viện ngoại bang, hết quân Xiêm đến quân Tàu làm tan nát cả sơn hà, cũng đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với chúa công ta, nhà ngươi chẳng qua chỉ là nước vũng so với ao trời. Còn nói về đức độ, thì Tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế, như đã đối với Nguyễn Huỳnh Đức, bề tôi của nhà ngươi. Còn ngươi lại dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với bậc nghĩa liệt, đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người cũng là khuyến khích tôi trung của mình. Chỗ hơn kém rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu Tiên đế ta đừng thừa long (qua đời) quá sớm, thì dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước này.
Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho quân Nguyễn nên xin được tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết…
Đào và san phẳng lăng mộ vua Thái Đức và Quang Trung, tán hài cốt thành bột nhồi thuốc súng bắn đi. Bỏ xương sọ ba vua Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh vào vò cùng bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ, giam vào trong ngục tối Nhà đồ Ngoại.
Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về (riêng Ngô Thì Nhậm thì bị Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên cho người đánh chết). Ra chỉ dụ tru di gia tộc của vua nhà Tây Sơn, và truy sát cả dòng họ của một số danh tướng nhà Tây Sơn. Trả thù những người theo nhà Tây Sơn, và truy sát những người họ hàng rất xa (đã cách nhau cả chục đời) của Nguyễn Huệ.
Năm 1806 (Bính Dần)
Tháng 5 làm lễ lên ngôi hoàng đế. Để tượng trưng sự thống nhất Nam – Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm, chọn niên hiệu là Gia Long. Sau đó phái đoàn sứ thần do Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh đem toàn bộ ấn sách nhà Thanh cho Tây Sơn trả lại và xin phong vương đồng thời đổi tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh cho rằng tên Nam Việt sẽ lẫn lộn với tên nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt và Tây Việt) nên đổi là Việt Nam. Sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn. Lực lượng nổi dậy bao gồm các tộc người thiểu số ở vùng miền núi như người Hoa, người Nùng: trong đó một số vụ nổi tiếng và kéo dài nhiều năm như cuộc nổi dậy của Lý Văn Phúc (vùng Thái Nguyên); Dương Đình Cúc (vùng Thái Nguyên), Lê Đắc Lộc và Thân Vạn Đồng (vùng Bảo Lộc), Mã Sĩ Anh (vùng Hưng Hóa); các con cháu nhà Lê như Lê Duy Hoán; các nhóm cướp phát triển lên như Cao Văn Dũng và Nguyễn Tình (vùng Sơn Tây và Hải Dương), Vũ Đình Khanh (vùng Sơn Nam Hạ), các tù trưởng người Mường như Quách Tất Thúc (khu vực Thanh Hóa)…
Xóa bỏ việc dùng chữ Nôm và khôi phục lại lối thi cử, viết văn bản bằng chữ Hán. Xóa bỏ chính sách khuyến khích ngoại thương, thay vào đó là chính sách ngăn cấm giao thương buôn bán với nước ngoài.
Năm 1814 (Giáp Tuất) chọn vị trí và đốc thúc xây dựng lặng mộ.
Năm 1815 (Ất Hợi) ban hành bộ Quốc triều hình luật gồm 22 quyển với 398 điều đã được ban hành. Giết hai công thần bậc nhất của triều là Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường
Năm 1817 (Đinh Dậu) chính thức phong con trai thứ 5 là Nguyễn Phúc Đảm làm Thái tử
Tháng 11/1818 (Mậu Dần) lâm bệnh (nghi do xơ gan cổ chướng) nên hạ chiếu cho Thái tử Nguyễn Phúc Đảm thay thế quyết việc nước và cho gọi hai đại thần là Lê Văn Duyệt và Phạm Đăng Hưng đến hầu. Dặn Thái tử Đảm:
– Đấy là cơ nghiệp gian nan của trẫm, nay giao cho con, con nên cẩn thận giữ gìn… Ta cũng sắp chết, không nói gì, chỉ có một việc là ngày sau phải cẩn thận chớ nên gây hấn ngoài biên.
Rồi sai Thái tử Đảm chép lại lời mình, Nguyễn Phúc Đảm chép một cách ngập ngừng ý muốn bỏ chữ “băng”, liền cầm bút viết luôn chữ đó vào. Bệnh ngày càng nặng dần, và cố gắng giấu điều này. Bí mật triệu bác sĩ Treillard của tàu buôn Pháp Henri (khi này đang được mời để trị bệnh cho công chúa thứ chín) vào cung chữa trị cho mình. Treillard và bác sĩ J. M. Despiau bí mật điều trị trong khoảng bốn tháng. Nhật ký ghi chép lại 94 lần kê toa (gồm 24 bài thuốc) của Thái y viện triều Nguyễn đã dùng để chữa bệnh.
Năm 1819 (Mậu Dần)
Tháng 9 đổi ấp Tây Sơn (nơi anh em Tây Sơn khởi nghĩa) thành An Tây, sau đó lại đổi thành An Sơn.
Năm 1820 (Kỷ Mão)
Nhà Nguyễn – Minh Mạng
Ngày 3/2 (19/12) qua đời, hưởng thọ 59 tuổi, ở ngôi 18 năm, miếu hiệu là Thế Tổ (世祖).
5. Hậu sự
Mộ táng trong khuôn viên Lăng Thiên Thọ (hay còn gọi là Lăng Gia Long), nằm ở núi Thiên Thọ thuộc làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam.
Nhà thờ tại Chánh Án Miếu ở Thế Miếu trong Đại nội Kinh thành Huế.
Vua Minh Mạng đặt thụy hiệu cho là Khai thiên Hoằng đạo Lập kỷ Thùy thống Thần văn Thánh vũ Tuấn đức Long công Chí nhân Đại hiếu Cao Hoàng đế (開天弘道立紀垂統神文聖武峻德隆功至仁大孝高皇帝).
6. Tham khảo
a) Internet
b) Ấn phẩm
Sách Đại Nam thực lục
Sách Sử ký Đại Nam Việt
Sách Tạ chí đại trường
Sách Thực lục
