1. Thông tin
– Tên húy: Ngô Phúc Trừng
Tên gọi: Ngô Cảnh Hựu (吳景祐) hay Cảnh Hữu
Tự hiệu: Minh Trứ
Tước vị: Phụ quốc Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Thiếu bảo Thế Quận công, gia phong Thái bảo Thượng Trụ quốc Thượng tướng quân, Bật nghĩa Doanh Ngô Tướng công
Tước hiệu: Thái bảo Thế Quận công
Thụy hiệu: Đôn Hậu phủ quân
– Sinh năm 1520 (Canh Thìn) tại làng Trảo Nha, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Đại Việt (nay là Việt Nam)
Mất năm 1596 (25/5/Bính Thân) (76 tuổi) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia thời nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.
2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Ngô Phúc Hà
– Bố là Ngô Phúc Thanh
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với 3 vợ: Từ Quang, Phạm Diệu Hằng, Trịnh Thị Diệu Minh
– Có 7 người con: (6 con trai và 1 con gái)
Con trai: Ngô Phúc Tịnh, Ngô Phúc Hoành, Ngô Phúc Mai, Câu Kê hầu, Ngô Phúc Ngôn và Ngô Thuận Tâm
Con gái: Ngô Thị Ngọc Nguyên
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Ngô Phúc Vạn, Vỵ Quận công và 2 cháu gái, Ngô Phúc Trạch, Ngô Phúc Yên, Ngô Phúc Trinh, Ngô Phúc Lý, Vân Lộc hầu, Ngô Phúc Đường, Ngô Hữu Lộc, Ngô Đăng Thiên, Ngô Đăng Minh, Ngô Đăng Bính và Ngô Tất Thắng
– Cháu ngoại: Trịnh Diêu
3. Cuộc đời và sự nghiệp
Con một trong gia đình
Năm 1520 (Canh Thìn)
Nhà Lê – Chiêu Tông/Lê Do – Quang Thiệu/Thiên Hiến
Vùng quê Thiên Lộc, trấn Nghệ An nhiều trộm cướp
Bèn tập hợp người dân chống lại và chiếm cứ. Người theo đông, đem quân vào núi thiết lập doanh trại luyện quân, bố trí giữ vững từ bờ nam sông Lam trở vào. Lại chiêu tập những người lang bạt mở nhiều trại khẩn hoang trồng lương thực nuôi quân khu Thạch Hà, Thiên Lộc thành các trại Năng, trại Cụ, trại Đoan.
Kỵ húy nên đổi tên sang Ngô Cảnh Hựu
Năm 1546 (Bính Ngọ)
Bắc triều nhà Mạc – Hiến Tông – Quảng Hòa hay Mạc Chính Trung
Nam triều nhà Hậu Lê (Lê trung hưng) – Trang Tông – Nguyên Hòa
Đàng ngoài chúa Trịnh – Trịnh Kiểm
Nghe tình hình Mạc Đăng Dung có ý tiếm ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim lập Lê Trang Tông làm vua đặt hành dinh ở Vạn Lại (nay thuộc Thọ Xuân, Thanh Hóa), Lượng Quốc công Trịnh Kiểm nắm giữ binh quyền. Bèn dẫn quân ra bái yết xin theo đánh Mạc, đem theo 2000 quân, 20 ngựa và bộ tướng hơn 10 người. Trịnh Kiểm khen ngợi và dùng làm tướng.
Năm 1551 (Tân Hợi)
Bắc triều nhà Mạc – Cảnh Lịch – Tuyên Tông
Nam triều nhà Lê – Thuận Bình – Trung Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Trịnh Kiểm
Tháng 5 cùng Trịnh Kiểm mở cuộc tiến công ra bắc.
Tháng 6 lại cùng Trịnh Kiểm qua Hưng Hóa, vượt sông Thao hợp binh với Vũ Văn Mật tiến về Thăng Long. Trong đó có các tướng Vũ quận công Ngô Bạt, Ngô Đình Tú, Ngô Tùng, Ngô Chi… dẫn 6000 quân đánh thắng một trận lớn tiêu diệt hơn vạn quân Mạc, giết đại tướng Mạc Đinh Bạt Sơn. Đại quân của Trịnh Kiểm vào được thành Thăng Long, nhưng quân Mạc đắp luỹ đào hào phòng thủ, Trịnh Kiểm sợ bị bao vây mất đường về, nên vội vàng lui quân về Thanh Hóa.
Năm 1555 (Ất Mão)
Bắc triều nhà Mạc – Quang Bảo – Tuyên Tông
Nam triều nhà Lê – Thuận Bình – Trung Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Trịnh Kiểm
Theo Trịnh Kiểm phục quân tại Thanh Hoá, đánh bại quân Mạc Kính Điển, bắt được tướng tiên phong là Quân Thọ, quân Mạc phải rút về bắc.
Năm 1556 (Bính Thìn)
Bắc triều nhà Mạc – Quang Bảo – Tuyên Tông
Nam triều nhà Lê – Thuận Bình/Thiên Hựu – Trung Tông/Anh Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Trịnh Kiểm
Đang giữ quân thứ, nhận lệnh dẫn hai vạn quân án ngữ cửa Thần Phù, chờ đánh lực lượng mạnh của nhà Mạc tập trung ở Sơn Nam. Một tháng sau chuyển quân đến Thiên quan, lập 30 đồn, đắp luỹ chống giặc. Được chỉ vua phong Chinh Tây Đại tướng quân, tước Thế Quận công.
Năm 1581 (Tân Tỵ)
Bắc triều nhà Mạc – Diên Thành – Mục Tông
Nam triều nhà Lê – Quang Hưng – Thế Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Bình An vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tiên vương
Được lệnh cùng Hoàng Đình Ái hợp đồng phá đạo tiến công của Mạc Đôn Nhượng với đạo tiến công Thanh Hóa và đạo đi đường biển đổ bộ lên Quảng Xương. Hai ông chia làm hai cánh. Thế Quận công điều tra biết chắc quân Mạc tập kết ở núi Đường Nang do Nguyễn Quyện chỉ huy, cùng Hà Thọ Lộc tập kích vào doanh trại địch, toàn bộ cánh quân Mạc bị đánh tan, phải rút về bắc. Sau trận này được thăng Bắc quân Đô đốc phủ Hữu Đô đốc.
Năm 1584 (Giáp Thân)
Mùa xuân, dẫn 2 vạn quân đi đoạn hậu, lo việc vận lương, đốc quân cho Trịnh Tùng đánh Sơn Nam. Kéo quân đánh Sơn Nam qua đường Tam Điệp. Sau khi đánh chiếm xong các huyện Yên Mô, Yên Khang, Gia Viễn; Trịnh Tùng hạ lệnh rút quân tuần đường Thiên Quan Phụng Hóa, dù biết hướng đi nhưng lại rút quân theo đường cũ, trái quân lệnh bị giáng hai cấp.
Năm 1587 (Đinh Hợi)
Bắc triều nhà Mạc – Đoan Thái – Mục Tông
Nam triều nhà Lê – Quang Hưng – Thế Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Bình An vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tiên vương
Sau khi đánh phá Trường Yên và Thiên Quan, đại quân chia làm 5 đạo, hành quân về phía tây nam. Cùng Lân Quận công Hà Thọ Lộc đi đạo thứ 5 bảo vệ lương thảo. Khi đến đất Mỹ Lương, quân của Nguyễn Quyện vượt sông Gio Lễ (đoạn sông Đáy chảy qua xã Gio Lễ ngày nay) mai phục sẵn để cướp lương. Được thêm hỗ trợ của Hoàng Đình Ái, liền đốc quân chống trả đánh tan quân Nguyễn Quyện, bảo vệ vẹn toàn lương thảo.
Năm 1589 (Kỷ Sửu)
Bắc triều nhà Mạc – Hưng Trị – Mục Tông
Nam triều nhà Lê – Quang Hưng – Thế Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Bình An vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tiên vương
Tháng 11 nhận lệnh Trịnh Tùng đốc quân thu giả bộ thập lương thảo, khí giới bỏ doanh trại lùi dần; Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng nhử cho quân Mạc đuổi theo. Quân Mạc do Mạc Đôn Nhượng thống lĩnh tiến công truy kích, đốt phá doanh trại, tiến sâu vào hiểm địa. Phục binh nghe tiếng pháo nổ, bốn bề đổ ra xung sát, giết hơn ngàn người, bắt làm tù binh 600 người.
Năm 1591 (Tân Mão)
Bắc triều nhà Mạc – Hồng Ninh – Mục Tông
Nam triều nhà Lê – Quang Hưng – Thế Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Bình An vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tiên vương
Ngày 3/12 dự họp bàn quyết định tháng 12 ra quân đánh Thăng Long. Nhận nhiệm vụ cùng quan Thái phó Nguyễn Hữu Liêu, Thái úy Hoàng Đình Ái, Lân quận công Hà Thế Lộc chia hơn 5 vạn quân ra làm 5 đội, mỗi người lĩnh một đội. Thế Quận công đi đạo thứ 5 bảo vệ lương thảo, xuất phát từ Tây Đô qua cửa Kim Sơn, cửa Thiên Quan, leo đèo lội suối xuyên rừng sau mười ngày đến Mã Yên Sơn, chưa kịp chỉnh đốn doanh trại, lại được lệnh di chuyển đến Hoa Mộng Sơn thuộc Thanh Châu (nay là Tp. Hà Nội). Trên đường chuyển quân, quân Mạc tung kỳ binh đánh tạt sườn hòng chia cắt hậu quân để cướp lương, lại phóng hoả đốt khu rừng phía trước chặn đường tiến quân. Thế Quận công đốc quân đánh tan kỳ binh địch, lại dập tắt được lửa, đưa lương thảo an toàn đến Hoa Mộng Sơn. Đại quân đánh chiếm được các huyện Yên Phong, Phúc Lộc, Tân Phong, Thạch Thất thuộc trấn Sơn Tây. Quân Trịnh áp đảo đến tận thành Thăng Long. Thế Quận công đang ở hậu quân được gọi lên tham chiến, chỉ huy mũi tiến công Cầu Mọc.
Năm 1592 (Nhâm Thìn)
Bắc triều nhà Mạc – Vũ An – Cảnh Tông
Nam triều nhà Lê – Quang Hưng – Thế Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Bình An vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tiên vương
Ngày (6/Giêng) giữa lúc đang tấn công, được lệnh cấp tốc hành quân đến cửa sông Hát đánh đạo quân của Đại tướng Mạc Ngọc Liễn đang phòng ngự ở đó. Quân đến nơi trời gần tối, điều tra biết Mạc Ngọc Liễn đóng quân bên kia sông, đắp luỹ phòng thủ, dưới mặt sông dàn chiến thuyền, cắm cọc gỗ phòng thủ. Liền tức tốc sai tập trung thuyền chài, chuẩn bị nhiều bè cỏ khô, thêm các khí cụ phóng hoả. Sai Dương Nghĩa hầu đang đêm dẫn 300 quân vượt sông, tìm nơi hiểm yếu phục binh chặn viện. Sang trống canh tư, nhân con voi thường cưỡi lồng lên, quản tượng không kiềm chế được, Thế Quận công bèn lên voi ra lệnh vượt sông tiến công. Ra đến giữa dòng bắc loa kêu gọi binh sĩ:
– Trước địch sau sông, ba quân không ra sức diệt địch thì không còn sinh lộ!
Một cánh đốt bè cỏ khô tung vào thuỷ trận Mạc, thuyền bắt lửa cháy, một cánh nhảy lên bộ xông vào chiến luỹ, quân Mạc sau luỹ thấy thuỷ quân đã tan vỡ, hoang mang hàng ngũ rối loạn chống đỡ không nổi tháo chạy, quân Trịnh đuổi theo đánh đến sáng, Mạc Ngọc Liễn dùng thuyền nhỏ chạy lên Tam Đảo. Quân ông thu được chiến thuyền khí giới nhiều không kể xiết. Tuổi già xung trận quá sức, khi xuống voi ông bị hôn mê, cấp cứu mãi mới tỉnh.
Ngày (7/Giêng) Trịnh Tùng triệu đến hành dinh khen ngợi, bèn nói:
– Trận này thắng lớn là nhờ hồng phúc của quốc gia, đang đêm voi lồng lên làm tôi bị hôn mê, lại được tướng sỹ hết lòng giết giặc, đâu phải tài cán của tôi.
Năm 1593 (Quý Tỵ)
Bắc triều nhà Mạc – Bảo Định – Mẫn Tông
Nam triều nhà Lê – Quang Hưng – Thế Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Bình An vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tiên vương
Năm 16/4 cùng bách quan rước vua Lê về Thăng Long. Trịnh Tùng luận công khen thưởng, chọn được 11 người Nguyên công (công đầu); cùng Trịnh Văn Hải hàng thứ 6, phong tước Thiếu bảo. Con voi được phong tước Quận công. Luận công khen thưởng xong, ông xin về trí sỹ.
Năm 1594 (Giáp Ngọ)
Bắc triều nhà Mạc – Càn Thống – Đại Tông
Nam triều nhà Lê – Quang Hưng – Thế Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Bình An vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Tiên vương
Trở về quê.
Năm 1596 (Bính Thân)
Ngày (25/5) từ trần
4. Giải thưởng và vinh danh
Mộ táng tại thôn Chi Lễ, xã Thái Hòa (nay là Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam)
Năm 1722 (Nhâm Dần)
Bắc triều nhà Mạc – Càn Thống – Đại Tông
Nam triều nhà Lê – Thái Bảo – Dụ Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – An Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Minh Vương Quốc chúa
Triều đình lục xét lại các Trung Hưng Công thần phong tặng Luỹ đại công thần, dữ quốc đồng hưu
5. Tham khảo
a) Internet
wikipedia.org: Ngô Cảnh Hựu
traonha.wordpress.com: Họ Ngô Trảo Nha – Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
vietnamgiapha.com: Ngô Cảnh Hựu
informatik.uni-leipzig.de: Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Chính biên, quyển thứ 30
– Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu 1477, Hồng Đức Lê Thánh Tông)
Họ Ngô Việt Nam, Lược sử Sự kiện và nhân vật Hệ phả (Ngô Đức Thắng, Hà Nội 2000)
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục

[…] Bố là Ngô Phúc Trừng và mẹ là Từ Quang hoặc Phạm Diệu Hằng hoặc Trịnh Thị Diệu […]