Ngô Cầu (1720 – 1786)

1. Thông tin

– Tên gọi: Ngô Cầu hay Phạm Ngô Cầu (范吳俅)

Đổi họ Phạm theo bố

Tước hiệu: Tạo Quận công (Quận Tạo)

– Sinh ngày 29/7/1720 (Canh Tý) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)

Mất ngày 7/8/1786 (Bính Ngọ) (66 tuổi) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia thời nhà Lê trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Đăng Sỹbà nộiTrịnh Thị

– Bố Ngô Đăng Lý mẹNguyễn Thị Danh

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với 16 vợ: Đàm Thị Diễm, 2, Chu Thị Tiêm, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, Nguyễn Thị Chung, 12, 13, 14, 15, 16.

– Có 20 người con: (8 con trai và 12 con gái)

Con trai: Phạm Ngô Thuỳ, Phạm Ngô Tố, Phạm Ngô Thạch, Phạm Ngô Siêu, Phạm Ngô Doãn, Phạm Ngô Tuyển, Phạm Ngô Chấn và Phạm Ngô Nội.

Con gái: Phạm Thị Đương và 11 con gái.

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Phạm Ngô Thiêm, Phạm Ngô Ích, Phạm Ngô Hậu, Phạm Ngô Bính, Phạm Ngô Ban, Phạm Ngô Lương, Phạm Ngô Quang, Phạm Ngô Sưng, Phạm Ngô San, Phạm Ngô Giáp, Phạm Ngô Gia, Phạm Ngô Truật và Phạm Ngô Quế.

3. Cuộc đời và sự nghiệp

Con cả trong gia đình 3 anh em (Ngô Cầu, Ngô Nho và Ngô Trác)

Nam triều nhà Lê – Bảo Thái – Dụ Tông

Đàng ngoài chúa Trịnh – An Đô vương

Đàng trong chúa Nguyễn – Minh Vương Quốc chúa

Thuở nhỏ theo học văn

Năm 1742 (Nhâm Tuất)

Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông

Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương

Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương

Đỗ tam trường

Năm 1744 (Giáp Tý)

Đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ).

Năm 1748 (Mậu Thìn)

Làm đề lĩnh tứ thành

Năm 1752 (Nhâm Thân)

Làm thủ hiệu quản đội Nhưng Nhất, Nhưng Hữu

Năm 1758 (Mậu Dần)

Thay Hoàng Phùng Cơ làm trấn thủ Kinh Bắc, tước Tạo Cơ hầu, dẹp yên được bọn cướp trong trấn.

Năm 1760 (Canh Thìn)

Làm trấn thủ Hải Dương – Yên Quảng có công đánh giặc cướp biển Tàu là Quận Đàm, Quận Gió, Quận Vẹt, Quận Huân; bắt được 2 tên Đàm và Huân, còn Quận Gió, Quận Vẹt quy phụ. Chúa Trịnh Doanh sai dẫn tên Huân cùng hơn 10 đồ đảng giải nộp sang Tàu (vì tên Huân thường hay cướp bóc những khách buôn bên Tàu, người Tàu ghi chép thông tin nhờ tầm nã). Được vua Tàu ban 100 tấm gấm, chúa Trịnh thưởng 2 tư

Năm 1763 (Quý Mùi)

Cứu hộ quan tỉnh Long Môn (phía Tàu) đi tuần thì bị gió dạt vào địa phận Hải Dương, mời về lỵ sở đãi đằng và tặng vật quý. Cảm kích lòng hiếu mến nên vị quan ấy trả lại 2 xã Vạn Ninh và Ba Làng ở xứ Yên Quảng (giáp Tàu). Công này lại được thưởng 3 tư.

Năm 1768 (Mậu Tý)

Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương

Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương

Tháng 2 được Trịnh Sâm trao chức thống lĩnh Sơn Tây cùng Nguyễn Đình Huấn, hợp đồng cùng với Hưng Hóa, Tuyên Quang đánh Hoàng Công Chất ở đồn Mường Thanh. Do Lê Duy Mật đến ứng cứu nên không đánh được, đành sút về. Được phong tước Tạo Quận công và làm trấn thủ Sơn Nam.

Năm 1769 (Kỷ Sửu)

Phụ trách việc vận lương đánh dẹp Lê Duy Mật.

Mẹ mất

Năm 1773 (Quý Tỵ)

Thăng trấn thủ Sơn Tây

Năm 1774 (Giáp Ngọ)

Phụ trách quân lương để Quận Việp đánh chúa Nguyễn. Sau đó được chúa cho về nghỉ dưỡng nhàn. Chẳng được bao lâu, lại khởi phục phong làm Chinh Nam đại tướng quân

Năm 1775

Nguyễn Lệnh Tân đề nghị cảnh giác và mưu đánh Tây Sơn, nhưng không nghe theo. Lệnh Tân bèn mật báo cho chúa Trịnh, nhưng chúa vẫn tin dùng.

Năm 1776 (Bính Thân)

Tháng 8 thay Bùi Thế Đạt làm trấn thủ Thuận Hoá, cho phép được tuỳ tiện thi hành mọi công việc. Để Nguyễn Mậu Dĩnh và Nguyễn Lệnh Tân ở lại giúp việc, đổi sai binh lính 10 doanh, cơ, đội đến thú thủ.

Năm 1777 (Đinh Dậu)

Tháng 6 được Hoàng Đình Thể trấn thủ ở Bố Chính (Quảng Bình, Quảng Trị) làm thanh thế viện trợ.

[Đang trấn giữ Phú Xuân]

Nhận lệnh đem quân ra đánh Phan Huy Ích.

Tháng 8 đề nghị chúa Trịnh cho khôi phục lại việc học hành ở Thuận Hoá và được chấp thuận. Sau thời gian này chuyên vào việc buôn bán, không sắm sửa khí giới phòng bị lương thực, quân và dân đều chán nản khinh thường.

Năm 1786 (Bính Ngọ)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Chiêu Thống

Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương/An Đô vương

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức

Tháng 5 ở thành Phú Xuân, thủ hạ của Nguyễn Huệ là người Hoa, giả làm thầy bói tới ra mắt, khuyên nên lập đàn giải hạn. Bèn nghe theo và lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ trong 7 ngày 7 đêm, bắt quân phục dịch vất vả.

Ngày 25/5 (28/4) đang cúng thì tàn quân chạy về báo tin Nguyễn Huệ đánh vào Hải Vân, Hoàng Nghĩa Hô đã tử trận. Biết mình bị mắc mưu quân Tây Sơn, lệnh cho quân sĩ về thành Phú Xuân chuẩn bị ứng phó, nhưng tướng sĩ phục dịch nhiều ngày nên mệt mỏi suy nhược. Lại nhận được bức thư của Nguyễn Hữu Chỉnh nhân danh người quen cũ gửi cho Hoàng Đình Thể dụ hàng, nhưng gửi nhầm nơi. Bối rối và nghi ngờ lòng trung thành nên giấu thư đi.

Nguyễn Huệ kéo đến. Ba người con là Phạm Ngô Tố, Phạm Ngô Doãn và Phạm Ngô Tuyển chống chọi không nổi, bị giết chết. Liền bàn với Hoàng Đình Thể đầu hàng, nhưng Đình Thể vẫn quyết đánh. Đành để Đình Thể đem quân ra nghênh chiến, còn mình ở lại giữ thành. Giao tranh mấy ngày đêm không phân thắng bại

Đêm 15/6 (20/5) nước ngập chân thành Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhân cơ hội lệnh thuỷ quân nã pháo vào thành. Không thể chống lại bằng pháo binh, Hoàng Đình Thể cùng các con và thuộc tướng Vũ Tá Kiên mở cửa thành ra nghênh chiến. Bèn đóng cửa thành không cứu viện Đình Thể và kéo cờ trắng xin hàng. Khi quân Tây Sơn kéo vào thành thì xe quan tải ra hàng và bị bắt, giải về Qui Nhơn luận tội phải chém.

Ngày 7/8 bị xử trảm. Được con gái là Phạm Thị Đương đưa về quê Thanh Hoá mai táng.

4. Vinh danh

Mộ táng tại núi Vi Bồng, xã Giao Cầu (nay là xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá)

5. Tham khảo

a) Internet

ngotoc.vn: Phạm Ngô Cầu

vi.wikipedia.org: Phạm Ngô Cầu

b) Ấn phẩm

Ngô gia Phả ký của Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Khâm định Việt sử thông giám cương mục

Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ của Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng (1976 Bính Thìn, NXB Quân đội nhân dân/)

Bài viết có thể có dị bản chưa kiểm chứng và sẽ luôn cập nhật. Mọi đóng góp vui lòng gửi về:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *