1. Thông tin
– Tên huý: Ngô Thế Duyên hay Thế Huyên
Tên khác: Thế Tuấn hay Tuân
Tự: Khiêm Trai
Hiệu: Liên Đường, Chư Nhân phủ quân
Thuỵ hiệu: Cung Doãn
– Sinh giờ Hợi, ngày 5/12/1825 (Ất Dậu) tại thôn Vũ Thạch (Ngũ Thạch), tổng Kim Liên, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, Việt Nam (nay là Việt Nam)
Có bản chép tuổi Đinh Hợi, nhưng vẫn ghi năm Minh Mệnh thứ 6 (1825)
Mất năm 1876 (10/5/Bính Tý) (51 tuổi) tại Đại Nam (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia thời nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.
2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Ngô Lệnh Huyền và bà nội là Vũ Thị
– Bố là Ngô Kim Liên và mẹ là Nguyễn Thị
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với vợ là Vũ Thị
– Có 3 người con trai: Ngô Phác, Ngô Đống và Ngô Đồng
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Ngô Dục và Ngô Trân
3. Con người và tính cách
Trang hongonamduongnamdinh.com viết: Tiên sinh là người phóng khoáng, tài khí, nhanh nhẹn, sáng suốt.
4. Cuộc đời và sự nghiệp
Con một trong gia đình
Năm 1825 (Ất Dậu)
Nhà Nguyễn – Minh Mạng 6
Năm 1826 Bính Tuất) khi 2 tuổi
Tháng 3 bố mất
Năm 1836 (Bính Thân) khi 11 tuổi
Mẹ cho đi học với bác là Nghị Phủ.
Năm 1840 (Canh Tý) khi 15 tuổi
Học với Tiến sỹ Lê Thành Trai ở Thượng Phúc.
Năm 1841 (Tân Sửu) khi 16 tuổi
Nhà Nguyễn – Thiệu Trị
Học với Tiến sỹ Lương Đường Vũ Hoán Phủ
Năm 1842 (Nhâm Dần) khi 17 tuổi
Học với cư sĩ Bình Vọng; rồi lại học với Dưỡng Am giáo thụ Phạm Tiên sinh người Anh Sơn.
Liền 7 kỳ văn đều bị gạch xóa, bèn treo quyển bị gạch xóa ở trước đèn, đêm đêm giở xem để tự răn. Đến kỳ tiếp theo được dự bình hạng đệ nhất danh. Từ đó văn ngày một tiến, không ai kịp.
Năm 1845 (Ất Tỵ) khi 20 tuổi
Theo chú là Ngô Thế Vinh dọn về quê
Năm 1850 (Canh Tuất)
Nhà Nguyễn – Tự Đức
Đỗ Tú tài.
Có bản ghi: Năm Bính Tuất niên hiệu Tự Đức, 24 tuổi
Năm 1852 (Nhâm Tý)
Đỗ Cử nhân, giữ chức Hàn lâm viện Điển tịch
Năm 1856 (Bính Thìn)
Thương cho tình cảnh của em họ mất sớm nên viếng đôi câu đối:
Tài thức đế vương châu, việt hải qua sơn, toàn phó khâm kì không tự tả;
Đệ hoàn thiên địa vật, như hoa tự ngọc, nhất sinh hoài bão vị tằng khai.
Nghĩa là: Vừa biết đến đất đế vương, vượt biển qua núi, cả một tấm lòng chưa được tỏ bày; Khi về cùng trời đất, như họa tựa ngọc, một đời hoài bão vẫn chưa được khoe tài.
Năm 1874 (Giáp Tuất)
Nhận sắc thụ Huấn đạo huyện Chân Ninh (nay là Trực Ninh)
Đến nhà thờ họ Ngô ở xã Ngọc Mâu bái yết có đề đôi câu đối rằng:
“Hậu đức bách niên truyền Ái Động;
Ảnh từ chung cổ đối Nam Dương”
Có nghĩa là: Đức dầy trăm năm truyền ở Ái Động. Hình ảnh nhà thờ mãi sánh cùng Nam Dương.
Vì họ Ngô ở đây cũng ở Động Bàng Thanh Hóa, phần lớn giầu, có số đinh đến 1000.
Năm 1876 (Bính Tý)
Ngày 10/5 ốm mất ở Lỵ sở.
5. Vinh danh
Huyện doãn Hoàng Hữu Tài thông báo thân hào sỹ tử trong huyện quyên góp được 800 mân, đưa về bản quán để mai táng.
6. Tham khảo
a) Internet
hongonamduongnamdinh.com: Gia phả họ Ngô thôn Bái Dương, xã Nam Dương – Nam Trực – Nam Định
b) Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (Đinh Dậu 1477, Hồng Đức Lê Thánh Tông)
