1. Thông tin
– Tên gọi: Ngô Đình Chất hay Đình Oánh
Hiệu: Thận Trai
Tước hiệu: Thái bảo Nhuệ Quận công
Có bản ghi là Xuyên Quận công
Tước vị: Công bộ Thượng thư
– Sinh năm 1679 (Kỷ Mùi) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam, tỉnh Hà Đông, Đại Việt (nay là thôn Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội, Việt Nam)
Có văn bản ghi sinh năm 1686 (Bính Dần)
– Mất năm 1751 (Tân Mùi) (72 tuổi) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam, tỉnh Hà Đông, Đại Việt (nay là thôn Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội, Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia thời nhà Lê trong lịch sử Việt Nam.
2. Gia đình
– Ông nội là Ngô Phúc Doãn và bà nội là Trịnh Thị
– Bố là Ngô Mùi
3. Cuộc đời và sự nghiệp
Con thứ 5 trong gia đình 6 anh em (Ngô Đình Quế, Ngô Thúc Chiêm, Ngô Đình Thạc, Ngô Đình Sở, Ngô Đình Trụ và Ngô Đình Chất)
Bắc triều nhà Mạc – Vĩnh Xương – Quý Tông
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Vĩnh Trị – Hy Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tây Định vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Hiền vương
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Bảo Thái – Dụ Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – An Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Minh Vương Quốc Chúa
Năm 1721 (Tân Sửu) đỗ đồng Tiến sỹ. Đổi tên là Ngô Đình Oánh. Làm chức ở Viện Hàn lâm
Ra làm Hiến sát sứ Thanh Hoa
Về triều làm Thiêm sai, kiêm Phó đô ngự sử
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Vĩnh Hựu – Ý Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương
Năm 1740 (Canh Thân) nhiều nông dân nổi dậy chống lại triều đình, chúa Trịnh Giang mải chơi làm hỏng chính sự
Tháng 3, anh trai là Ngô Đình Thạc bị Thổ tù Toản Cơ giết chết
Bèn bàn cùng các đại thần bàn đưa em của Trịnh Giang là Trịnh Doanh lên ngôi. Có công ổn định chính sự, được thăng làm Tuyên lực công thần, phong chức Thượng thư bộ Binh, tước Phương Đình hầu.
Giữ chức quyền Tể tướng, có trách nhiệm cất nhắc quan lại, ổn định kỷ cương trong triều, làm việc nghiêm túc và trong sạch. Trịnh Doanh mến tài, khen là “thanh, thận, trung, cần” (trong sạch, cẩn thận, trung thành và siêng năng).
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương
Năm 1750 (Canh Ngọ) thấy tuổi đã cao, bèn xin nghỉ hưu. Trịnh Doanh không muốn, phải xin 3 lần mới được chấp thuận.
Năm 1751 chính thức được nghỉ về quê, các quan tiễn đưa trọng thể, văn thơ chúc tụng thắm thiết.
Sau đó khi triều đình có việc, vua Lê và chúa Trịnh đều vời ra làm Bồi tụng
Qua đời cùng năm.
4. Vinh danh
Được truy tặng Thái bảo, tước Nhuệ Quận công
5. Tham khảo
– Internet
– Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (Đinh Dậu 1477, niên hiệu Hồng Đức Lê Thánh Tông)
Bản Phả chữ Hán của Ngô Ái (Tự Đức thứ 12/1871)
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú
