Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780)

1. Thông tin

– Tên huý: Ngô Thì Sỹ hay Thời Sỹ hay Thì Sĩ

Tên chữ Hán: 吳時仕 hay 吳時士

Hiệu: Ngọ Phong (午峰)

Tự: Thế Lộc (世祿)

Đạo hiệu: Nhị Thanh cư sĩ

Tước hiệu: Khánh Diên hầu

– Sinh ngày 15/10/1726 (20/9/Bính Ngọ) tại làng Tó, hương Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam Hạ, tỉnh Hà Đông, Đại Việt (nay là xã Đại Thanh, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội, Việt Nam)

Mất ngày 22/10/1780 (29/8/Canh Tý) (54 tuổi) tại động Nhị Thanh, Đại Việt (nay là Tp. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Phật giáo

– Là chính trị gia, nhà sử học, nhà văn, nhà thơ thời nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Trânbà nộiNguyễn Thị

– Bố Ngô Thì ỨcmẹTưởng Thị

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với 2 vợ là Ngô Vi và Nguyễn Thị

– Có 10 người con: (9 con trai và 1 con gái)

Con trai: Ngô Thì Nhiệm, Ngô Thì Thục, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Đan, Ngô Thì Định, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hoàng, Ngô Thì Nhân và Ngô Thì Vị

Con gái: Ngô Thị

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Ngô Thì Diễn, Ngô Thì Nghi, Ngô Thì Quán, Ngô Thì Hiệu, Ngô Thì Nhiên, Ngô Thì Huệ, Ngô Thì Lữ, Ngô Thì Sủng, Ngô Thì Trị, Ngô Thì Triệu, Ngô Thì Quý, 1 cháu gái, Ngô Thì Ngũ và Ngô Thì Nùng.

3. Con người và tính cách

ngotoc.vn: nổi tiếng thông minh […] ông là một nhà chính trị có tầm nhìn xa rộng, có tâm huyết và có nhiều ý tưởng cải cách nền chính sự đương thời với mong muốn làm cho xã hội ổn định, nhân dân được sống yên vui

Phan Huy Chú đánh giá: Lúc trẻ ông sẵn nề nếp gia đình, càng chăm học; do văn chương mà được nổi tiếng. Trong cuộc tuyển cử để lấy người, ông được đứng đầu, rất được Nghị tổ yêu và chú ý… Nhà vốn nghèo mà chí không nhụt […] người có “học vấn sâu rộng, văn chương hùng vĩ, làm rạng rỡ cho tông phái nho gia, là một đại gia ở Nam Châu

Phạm Đình Hổ chép trong Vũ trung tuỳ bút: nổi tiếng là bậc hay chữ, bị bọn quan đương thời ghen ghét, khi đến thi Hội các khảo quan dò xét hễ thấy quyển nào giọng văn hơi giống thì bảo nhau: “Quyển này hẳn là khẩu khí Ngô Thì Sĩ”, thế là họ hết sức bới móc đánh hỏng đi. Trịnh chúa Nghị Tổ (Trịnh Doanh) biết có thói tệ ấy nên khi thi cử xong rồi, truyền đem quyển hỏng của Ngô Thì Sĩ ra duyệt lại.

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con cả trong gia đình 3 anh em (Ngô Thì Sỹ, Ngô Tưởng Đạo và Ngô Đắc Tài)

Năm 1733 (Quý Sửu) khi 7 tuổi

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Long Đức 2 – Thuần Tông 2

Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương 4

Đàng trong chúa Nguyễn – Ninh vương 8

Được ông nội rèn dạy

Làm bài thơ “Trách bần quỉ văn” (nghĩa là văn trách con quỷ nghèo), được truyền tụng.

Năm 1736 (Bính Thìn) khi 10 tuổi

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Vĩnh Hựu 1 – Ý Tông 1

Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương 7

Đàng trong chúa Nguyễn – Ninh vương 11

Bố qua đời

Năm 1737 (Đinh Tỵ) khi 11 tuổi

Ra Thăng Long học các bậc danh nho như Nghiêm Bá Đĩnh, Nhữ Đình Toản

Thi rất nhiều khoa

Năm 1743 (Quý Hợi) khi 17 tuổi

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 3 – Hiển Tông 3

Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 4

Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương 5

Đỗ Hương tiến (Cử nhân)

Thi Hội nhưng bị hỏng

Năm 1745 (Ất Sửu) khi 19 tuổi

Đỗ đầu khoa Sỹ vọng, được giao giữ một chức nhỏ trong Binh tào

Năm 1752 (Nhâm Thân)

Lại đi thi Hội, bị khảo quan Trần Tố đánh hỏng. Sau mới biết là nhầm, nên được chúa Trịnh Doanh trao chức Thiêm tri Công phiên thẩm ứng vụ.

Năm 1756 (Bính Tý)

Đỗ đầu một kỳ thi tuyển người, trở thành thành viên trong Văn ban của phủ chúa Trịnh, được giao trách nhiệm soạn thảo giấy tờ, và làm Tùy giảng cho con chúa là Thế tử Trịnh Sâm.

Năm 1760 (Canh Thìn)

Vợ cả qua đời

Gia cảnh tiêu điều, khó khăn chồng chất.

Năm 1761 (Tân Tỵ)

[Sứ nhà Thanh sang sắc phong và điếu tang Lê Ý Tông]

Được sai làm “bạn tiếp”

Năm 1763 (Quý Mùi)

Có người làm mối dẫn người con gái tên là Nguyễn Thị. Vừa gặp mặt, biết ngay là người hiền, bèn đưa lễ hỏi.

Được vào hàng Tiến triều (không đỗ đại khoa mà được làm quan chức như đỗ đại khoa), làm Cấp sự trung Công khoa

Năm 1764 (Giáp Thìn)

Mùa xuân, cưới vợ là Nguyễn Thị

Được bổ làm Giám sát Ngự sử đạo Sơn Tây

Năm 1765 (Ất Tỵ)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 25 – Hiển Tông 25

Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 25

Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 1

Được thăng Đốc đồng Thái Nguyên, Bắc Ninh.

Năm 1766 (Bính Tuất)

Đỗ Đình nguyên Hoàng giáp.

Năm 1767 (Đinh Hợi)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 27 – Hiển Tông 27

Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 27/Tĩnh Đô vương 2

Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 2

Được thăng Đông các Hiệu thư

Làm Hiến sát sứ Thanh Hoa, cho khai thác núi Bàn A dựng chòi xem sóng biển và lập hội Quan lan sào, tự minh làm hội trưởng

Năm 1769 (Kỷ Sửu)

Được về triều

Năm 1770 (Canh Dần)

Làm Tham chính Nghệ An

Đi xứ Hải Dương

Năm 1771 (Tân Mão)

Giữa đêm, nghe tin vợ bị ốm nặng, liền đội mưa gió về nhà. Về đến nơi không kịp nhìn mặt vợ.

Viết các bài Khuê ai lục, Thập tư (Mười nhớ), Thập bất tất tư (Mười không cần nhớ)

Chấm thi ở trường thi ở Nghệ An, bị Nguyễn Văn Chu kiện vì ăn của đút của học trò

Năm 1772 (Nhâm Thìn)

Bị án “hoàn dân thụ dịch” (nghĩa là cách chức trả về làm dân chịu sai dịch)


Năm 1774 (Giáp Ngọ)

[Chúa Trịnh Sâm đi tuần phương nam, biết bị oan]

Năm 1775 (Ất Mùi)

Chúa Trịnh Sâm triệu vào kinh giữ chức Hiệu lý trong viện Hàn lâm kiêm Hiệu chính Quốc sử (Đông các Hiệu thư)

Ít lâu sau thăng Thiêm đô ngự sử, Bí thư các Chính tự.

Có lần Trịnh Doanh giao cho các quan trong ban Văn làm bài phú về Chu Công, riêng Ngô Thì Sĩ, chúa đã sai Trung sứ chờ lấy từng đoạn đem về phủ cho chúa đọc, lại sai người thỉnh thoảng đem hoa quả ban cho…

Năm 1777 (Đinh Dậu)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 36 – Hiển Tông 36

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 9

Đàng trong chúa Nguyễn – Tân Chính vương 1

Làm Đốc trấn Lạng Sơn. Sau khi ổn định được tình hình địa phương, giúp dân an cư, việc tuần phòng rỗi rãi, lại nhởn nhơ nơi núi khe, tìm chốn thanh u, dò nơi hiểm trở.

Đặt doanh Lộc Mã

Cho xây dựng Đoàn thành

Dựng đình Kinh lược

Sửa sang động Song Tiên

Mở mang động Nhị Thanh làm cho nó trở thành một thắng tích, việc quan thong thả chèo thuyền tới động, leo lên bậc đá ngâm thơ, uống rượu. Khắc lên vách đá tại động bài Truyền thần tự tán như sau:

Người là ai? khăn áo đạo sĩ, nét mặt nhà nho,
Thân cao bốn thước, lưng nhỏ ba chét tay,
Râu thưa, tóc mai trĩu, má hóp, lưỡng quyền gầy.
Há không chốn tiêu dao mà làm tổ trong hang này?
Văn dốt vũ dát, chính sự độn, việc “hành chỉ” tuềnh toàng, không một nét đáng ghi lại.
Duy tính ưa suối đá, mà chí khí ở nơi hồ biển,
Được hang động này thật thích hợp, để gìn giữ cái tuổi già lều lảo của ta…”

Đề tựa trong tập thơ Nam trình liên vịnh tập của bố 

Cho khắc in tập thơ Tuyết Trai thi tập của bố, đổi tên thành Nghi vịnh thi tập

Năm 1780 (Canh Tý)

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức

Đi đánh dẹp Hoàng Đồng ở Tuyên Quang (phối hợp với quân Nguyễn Lễ Đốc trấn Sơn Tây).

Đi Mục Nam quan

Khi về ghé nghỉ ở động Nhị Thanh

Về đến nhà thì cảm bệnh không tiếp khách được.

Vài ba hôm sau khỏi bệnh, tiếp khách cười nói như thường.

Ngày 22/10 (29/8) buổi tối, mất tại động Nhị Thanh

Theo Trần Văn Giáp và Trần Thị Băng Thanh nhận định sau lần đi công cán trên ải Nam Quan trở về rồi vào nằm nghỉ trong động Nhị Thanh, có lẽ là do bị cảm lạnh. 

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Trước khi Ngô (Thì) Nhậm tố cáo cơ mưu của Trịnh Khải, có đem bàn với cha là Ngô (Thì) Sĩ. Ngô (Thì) Sĩ cố sức ngăn… Đến khi hay tin Ngô (Thì) Nhậm đã tố cáo, Ngô (Thì) Sĩ buồn bực mà uống thuốc độc tự tử. Ngô (Thì) Nhậm, vì có công tố giác, được thăng làm Hữu Thị lang bộ Công, nhưng thiên hạ lúc ấy lại có câu rằng: “Sát tứ phụ nhi Thị lang”, nghĩa là “giết bốn người cha mà làm Thị lang”.

Sách Lê quý dật sử chép tương tự: …(Ngô Thì) Sĩ thấy con bè đảng xu phụ Tuyên phi (Đặng Thị Huệ), vu khống Thế tử, ông bất bình, ra sức khuyên ngăn, nhưng (Ngô Thì) Nhậm không nghe, ông phẫn uất uống thuốc độc tự tử… (Sau vụ án) cất nhắc Ngô Thì Nhậm làm Công bộ Tả Thị lang, vì tố cáo Thế tử (Trịnh Khải) nên được ban thưởng, thăng vượt cấp bảy lần

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

a) Thơ

Anh ngôn thi tập (quyển thượng và quyển hạ)

Anh ngôn phú tập

Quan lan thi tập

Nhị thanh động tập

Nam quốc vũ cống

Khuê ai lục

Ngọ phong văn tập (quyển nhất và quyển nhị)

Hậu hiệu tần thị tập

Bảo chương hoằng mô

Sách chế khải tập

Khoa sở tập biên

Quan lan thập vịnh

Hải Dương chí lược (hay Hải Đông chí lược)

Ngô gia văn phái

b) Sử ký

Việt sử tiêu án

Đại Việt sử ký tiền biên

Đại Việt sử ký tục biên (Nhiều tác giả)

Quốc sử tục biên

6. Vinh danh

Con trai cả dâng Phật hiệu là Nhị Thanh trường thọ quan tự tại phúc lượng đại hải chân như vô tận ý bồ tát

7. Vinh danh

Tác gia lớn trong Ngô gia văn phái

Lưu danh văn bia số 77 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Tp. Hà Nội)

Dân làng Vĩnh Trại thuộc huyện Thoát Lãng ở giáp động Nhị Thanh (Lạng Sơn) lập đền thờ

Nhà Nguyễn Tây Sơn

Phong tặng là Lễ Thượng Thư Văn Dụ Hồng Liệt Đại Vương.

Được liệt vào Trường An Thất hổ của Thăng Long (bảy con hổ của kinh thành)

Năm 2002 (Nhâm Ngọ)

Đặt tên đường tại phường IV, Tp, Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

8. Tham khảo

a) Internet

traonha.wordpress.com: Họ Ngô Thì – Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội

ngotoc.vn: Ngô Thời Sĩ

vi.wikipedia.org: Ngô Thì Ức

vi.wikipedia.org: Ngô Thì Sĩ

toquoc.vn: Ngô Thì Úc – Nhà giáo, nhà thơ

lamdong.gov.vn: Ngô Thì Sĩ

thivien.net: Ngô Thì Sĩ

phunuvietnam.vn: Người vợ tảo tần của danh nhân Ngô Thì Sĩ

b) Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Bản Phả chữ Hán của Ngô Ái (1871 Tân Mùi, Tự Đức 12)

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học Xã hội)

Từ điển văn học của Nhiều tác giả (2004 Giáp Thân, NXB Thế Giới)

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học Xã hội)

Người xưa bàn về văn chương của Đỗ Văn Hỷ

Khâm định Việt sử thông giám cương mục

Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (1989 Kỷ Tỵ, NXB Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Tp. Hồ Chí Minh)

Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – Tập 1 của Trần Văn Giáp (1984 Giáp Tý, NXB Văn Hoá, Hà Nội)

Ngô Thì Sỹ của Trần Thị Băng Thanh (1987 Đinh Mão, NXB Hà Nội)

Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch (1987 Đinh Mão, NXB Khoa học Xã hội)

Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái

Danh nhân văn hoá trong lịch sử Việt Nam của Tạ Ngọc Liễn (2008 Mậu Tý, NXB Thanh niên)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *