Ngô Thì Đạo (1732 – 1802)

1. Thông tin

– Tên huý: Ngô Thì Đạo hay Tưởng Đạo hay Thời Đạo

Chữ Tưởng là lấy họ bên ngoại làm đệm

Tự: Văn Úc hay Văn Túc

Hiệu: Ôn Nghị

– Sinh năm 1732 (Nhâm Tý) tại làng Tó, hương Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam Hạ, tỉnh Hà Đông, Đại Việt (nay là xã Đại Thanh, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội, Việt Nam)

Mất năm 1802 (10/Nhâm Tuất) (70 tuổi) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo:

– Là chính trị gia thời nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Trânbà nộiNguyễn Thị

– Bố Ngô Thì ỨcmẹTưởng Thị

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là: Nguyễn Thị

– Có 2 người con trai: Ngô Thì Dịch và Ngô Thì Du

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Ngô Thì Sùng, Ngô Thì Vỹ, Ngô Thì Dân, Ngô Thế Trụ và Ngô Thế Viêm

3. Con người và tính cách

vi.wikipedia.org nhận xét: Ông tỏ ra hết sức quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của con em trong gia đình, và luôn đề cao đạo Nho, coi đó là một con “đường lớn”. Nhìn chung, qua các tác phẩm của Ngô Thì Đạo, người đọc bắt gặp một con người có hoài bảo, có ý thức trách nhiệm nhưng cũng đầy trăn trở, cái trăn trở của người sinh bất phùng thời, của một kẻ sĩ giữa thời biến loạn

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con thứ 2 trong gia đình 3 anh em (Ngô Thì Sỹ, Ngô Thì Đạo và Ngô Đắc Tài)

Năm 1732 (Nhâm Tý)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Vĩnh Khánh 3/Long Đức 1 – Duy Phường 3/Thuần Tông 1

Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương 3

Đàng trong chúa Nguyễn – Ninh vương 7

Học với ông nội

Năm 1736 (Bính Thìn) khi 4 tuổi

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Vĩnh Hựu 1 – Ý Tông 1

Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương 7

Đàng trong chúa Nguyễn – Ninh vương 11

Bố qua đời

Lên Thăng Long học với Nhữ Đình Toản

Năm 1753 (Quý Dậu)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 13 – Hiển Tông 13

Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 13

Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương 15

Đỗ Á nguyên khoa thi Hương

Năm 1756 (Bính Tý)

Làm Thị giảng Đông cung

Năm 1757 (Đinh Sửu)

Đỗ giải nguyên khoa Hoành từ, giữ chức Tri huyện Đốc đồng trấn Kinh Bắc

Năm 1758 (Mậu Dần)

Làm Tri huyện Thuỵ Anh

Năm 1767 (Đinh Hợi)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 27 – Hiển Tông 27

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 1

Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 2

Làm Đại lý tự thừa

Làm Tri phủ Áng Đô

Năm 1772 (Nhâm Thìn)

Làm quan ở Hoan Châu, Nghệ An

Sinh con thứ 2 là Ngô Thì Du

Năm 1776 (Bính Thân)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 37 – Hiển Tông 37

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 9

Đàng trong chúa Nguyễn – Tân Chính vương 1

Làm Hiến đài Sơn Tây

Năm 1784 (Giáp Thìn)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 44 – Hiển Tông 44

Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 2

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 6

Làm Hiến sát phó sứ kiêm uỷ phủ sứ Kinh Bắc

Được chọn làm khảo quan, liền dâng biểu từ chối, nội dung biểu đại ý: Lúc này đất nước còn nhiều việc đáng lo giải quyết (ngầm chỉ quân Tây Sơn có thể lại ra lần nữa) hơn là việc tuyển chọn nhân tài. Vả xưa nay nhân tài đâu có phải tất cả đều do khoa cử mà ra. Rồi mỉa mai:

– Còn như thần đây lạm dự một chức còn sợ chưa nổi, dám đâu làm nhơ đến việc hệ trọng này, để thương tổn đến sự sáng suốt trong việc cất nhắc nhân tài của thánh triều.

Năm 1787 (Đinh Mùi)

Bỏ quan về huyện Kim Bảng (Hà Nam), rồi Nam Chân (Nam Định) và nhiều nơi khác nữa

Năm 1788 (Mậu Thân)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Chiêu Thống 2

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 10/Quang Trung 1

[Nguyễn Huệ ra bắc lần thứ 2]

Đang sống lưu vong ở vùng Sơn Nam. Nhận được thư mời của tướng nhà Tây Sơn là Trần Văn Kỷ, tìm về và nài ép ra làm quan với nhà Tây Sơn. Từ chối mãi không được, bèn làm bài thơ dài ngàn chữ, nói lên 8 điều không thể ra với Tây Sơn. Trần Văn Kỷ đành ngưng lại.

Nhận được thư của cháu là Ngô Thì Nhậm bàn về thơ văn và lời thăm hỏi.

Năm 1796

Về quê hương dựng lại nhà bị cháy, cày cấy nuôi thân, song thường chẳng đủ ăn

[Tôn Sỹ Nghị vào Thăng Long]

Vua Lê Chiêu Thống về Kinh thành mời ra giúp. Muốn từ chối nên lấy cớ già yếu, ở nhà dạy học kiếm sống.

Nhà nghèo, kinh tế khó khăn, bạn bè làm quan với Tây Sơn đều biếu quà cáp, nhưng không nhận của ai bất kể là vật gì.

Năm 1802 (Nhâm Tuất)

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Cảnh Thịnh 10 – Quang Toản 10

Nhà Nguyễn – Gia Long 1

Tháng (10) từ trần

Thừa tự bên ngoại

5. Tác phẩm và công trình tiêu biểu

Hoành từ Hiến sát Văn Túc công di thảo (Bản thảo để lại của ông Văn Túc đỗ khoa Hoành từ, giữ chức Hiến sát)

6. Vinh danh

Con trai là Ngô Thì Du cùng các con cháu sưu tập các bản thảo tác phẩm để làm thành tập Hoành từ Hiến sát Văn Túc công di thảo

7. Tham khảo

a) Internet

traonha.wordpress.com: Họ Ngô Thì – Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội

ngotoc.vn: Ngô Thời Đạo

vi.wikipedia.org: Ngô Thì Đạo

vanmau.com: Giới thiệu nhà văn Ngô Thì Du

b) Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Bản Phả chữ Hán của Ngô Ái (1871 Tân Mùi, Tự Đức 12)

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học Xã hội)

Từ điển văn học của Nhiều tác giả (2004 Giáp Thân, NXB Thế Giới)

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học Xã hội)

Người xưa bàn về văn chương của Đỗ Văn Hỷ

Khâm định Việt sử thông giám cương mục

Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (1989 Kỷ Tỵ, NXB Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Tp. Hồ Chí Minh)

Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – Tập 1 của Trần Văn Giáp (1984 Giáp Tý, NXB Văn Hoá, Hà Nội)

Ngô Thì Sỹ của Trần Thị Băng Thanh (1987 Đinh Mão, NXB Hà Nội)

Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch (1987 Đinh Mão, NXB Khoa học Xã hội)

Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái

Danh nhân văn hoá trong lịch sử Việt Nam của Tạ Ngọc Liễn (2008 Mậu Tý, NXB Thanh niên)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *