Ngô Bình Viên (1878 – 1929)

1. Thông tin

– Tên huý: Ngô Bình Viên

Tên gọi: Ngô Đức Kế (吳德繼) hay Vũ Đức Kế

Hiệu: Tập Xuyên (集川)

Tên dân gian: Ngô Nhân Tổ (người cụ tổ họ Ngô) hoặc Ngô Việt Hành (hành tinh đất Ngô – Việt)

– Sinh năm 1878 (Mậu Dần) tại làng Trảo Nha, tổng Đoài, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh, Đại Nam (nay là tổ dân phố 2, thôn Nam Sơn, Tt. Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam)

Mất ngày 10/12/1929 (Kỷ Tỵ) (51 tuổi) tại Hà Nội, Liên bang Đông Dương (nay là Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

– Là chính trị gia, nhà thơ, nhà báo thời nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Phùng

– Bố Ngô Huệ Liên

Đời 35

Con cả trong gia đình 3 anh em (Ngô Bình Viên, Ngô Đức Thiệu và Ngô Đức Vóc)

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là: Nguyễn Thị Huề

– Có 1 người con trai: Ngô Đức Trì

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Ngô Đức Thọ

3. Con người và tính cách

Huỳnh Thúc Kháng viết: Ông Ngô Đức Kế là một người tài học trổ từ lúc thiếu niên. Nếu như có ý thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia, mượn lối văn chương để tiện đường mua giàu chác tiếng như ai, thì trong đám người đời mà lên mặt sang trọng, thông thái ấy, ông làm đến đâu cũng thừa ra. Thế mà hy sinh cả thảy, chỉ ôm một lòng lo việc chung cho đất nước, trọn đời đày đọa mà cứ khăng khăng một mực cho đến ngày đậy nắp hòm

Phan Bội Châu ca ngợi trong Văn tế Phan Chu Trinh: Đặng, Hoàng, Ngô, ba bốn bác hàn huyên, khi uống rượu, khi ngâm thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khảng khái.

4. Cuộc đời và sự nghiệp 

Khi nhỏ

Học tại quê nhà

Bạn học là Lê Văn Huân (làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ) ở trường của thầy Nguyễn Đức Đạt

Năm 1890 (Canh Dần) khi 12 tuổi

Nhà Nguyễn – Thành Thái 2

Theo cha vào Huế để học

Năm 1895 (Ất Mùi) khi 17 tuổi

Cuối năm, học tại Trường Giám ở Huế

Năm 1897 (Đinh Dậu) khi 19 tuổi

Thi Hương ở trường Thừa Thiên; đỗ Cử nhân

Về quê nhà giúp cha sưu tập tư liệu làm gia phả, tu sửa từ đường…

Xây ngôi nhà hai tầng

Trở lại Huế đọc sách và ôn luyện văn bài để đi thi Tiến sĩ.

Viết trong bài Khán bảng thời cảm tác: Thánh chúa ân cầu sĩ, Ngô thân hựu vọng nhi, Thử sinh tư báo bổ, Hồi thư cảm suy di. (Đào Duy Anh dịch là: Vua thánh kén kẻ sĩ, Lòng cha mẹ thương con, Thân này lo đền đáp, Ngoái lại chạnh mất còn)

Năm 1901 (Tân Sửu)

Nhà Nguyễn – Thành Thái 12

Dự thi Đình, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (Á khoa) (xếp thứ hai sau Đình Nguyên tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân ở Bắc Giang; cùng đỗ khoa thi này, có Nguyễn Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc 41 tuổi và Phan Chu Trinh 30 tuổi.).

Khi xem yết bảng trở về viết bài thơ Khán bảng thời cảm tác:

Thánh chúa ân cầu sĩ,
Ngô thân hựu vọng nhi.
Thử sinh tư báo bổ,
Hồi thủ cảm suy di. 

Dịch nghĩa:

Cảm tưởng khi xem yết bảng

Vua thánh ơn tìm kẻ sĩ,
Cha ta lại mong ta thi đỗ.
Thân này lo sao báo đáp,
Ngoái đầu lại, cảm khái về sự đổi dời.

Dịch thơ của Đào Duy Anh:

Vua thánh kén kẻ sĩ,
Lòng cha mẹ thương con.
Thân này lo đền đáp,
Ngoái lại, chạnh mất còn.

Tháng 5 làm lễ vinh quy bái tổ. Ngồi cùng vợ trên cỗ xe ngựa do các thân hữu chung tiền mua giúp, bên tay vịn có buộc lá cờ thêu: “Sắc tứ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân”. Đại diện họ Ngô Trảo Nha có ông Ngô Hảo và mấy người nữa, họ Võ bên Phù Minh có cha con chú rể là Võ Kiều Sơn và mấy người nữa, mỗi tốp đều có các gia nhân gánh tráp quảy quả đi theo. Một đoàn đông vui ngày đi đêm nghỉ, hết tỉnh Thừa Thiên, qua Quảng Trị, Quảng Bình. Khi qua sông Gianh, Tập Xuyên có cảm tác một bài thơ:

Phiên âm:

Độ Linh Giang

Tằng thượng Bồng Lai kỷ vạn trình,
Thiên phong xuy ngã mã đề khinh.
Kim triêu độ khẩu cô phàm khứ,
Bất tá đông phong nhất nhật hành.

Dịch nghĩa:

Qua Sông Gianh

Từng đến chốn Bồng Lai, xa mấy vạn dặm,
Gió trời thổi sau lưng, nhẹ lâng vó ngựa.
Sáng nay một cánh buồm lẻ loi đưa ta qua bến,
Tiếc không mượn gió đông mà đi một ngày đường.

Dịch thơ của Ngô Đức Mậu:

Bồng Lai nhớm bước mấy ngàn trùng,
Gót ngựa bon nhanh nhẹ nhẹ không.
Hôm nay một cánh buồm qua bến,
Không mượn cho ta trận gió đông.

Cỗ xe vinh quy cùng đoàn tháp tùng lên Đèo Ngang, xuống Voi (Kỳ Anh), Kim Nặc (Cẩm Xuyên), qua đạo thành Hà Tĩnh rồi về đến Nghèn. Đến nơi thì làng họ đã tụ họp rất đông, từ ngoài đường quan đến tận sân nhà. Lán sạp dựng san sát từ trong ngõ ra. Làng trên xã dưới cũng từng đoàn từng tốp trẻ con người lớn băng đường tắt qua các cánh đồng đến mừng hội vinh quy. Trong cuộc rượu, nói với Võ Kiều Sơn: “Làm đám cho cha mẹ cháu vui thôi. Nước đã mất, cháu không bao giờ ra làm quan cả”.

Hôm sau cùng cử Bá đi Phất Não chơi. Hàng tổng biếu bò lợn và ba chục quan tiền nhưng không nhận, sau nài nể mới nhận một con lợn để thêm lễ tế trên đền Linh Nha.

Báo với bộ Lễ là “xin ở lại quê quán để học tập, đến 30 tuổi sẽ ra tòng chính!” (nhưng không vào Huế nhận thẻ “Hậu bổ” như lệ định)

Mở lớp dạy học ở nhà

Mở một hiệu thuốc Đông y ở phố Nghèn, mời Võ Tịnh (quê xã Khánh Lộc) ngồi bốc thuốc, cho em trai là Ngô Đức Thiệu giúp các công việc

Mở Thư viện tại ngôi nhà hai tầng số 32 phố Hàng Ngang, gần đường quốc lộ. Được bố chuyển sách từ Huế về, có các cuốn: bộ Đại Nam thực lục, Tiền biên, Chính biên; các sách chép các bản Điều trần của Nguyễn Trường Tộ, bài Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch; các Tân thư Trung Quốc (Vạn ngôn thư của Khang Hữu Vi và Lương Khi Siêu, Trung Quốc hồn, Trung ngoại kỷ văn…); các loại báo chí như Thanh nghị báo, Tân Dân tùng báo, Thời vụ báo của Lương Khải Siêu…; sách nói về cải cách duy tân của Nhật Bản như Nhật Bản duy tân tam thập niên sử của Takayma Rinio, Đông Trung chiến kỷ của Young Allen…

Liên hệ với Phan Bội Châu và đứng ra đề xướng lối học mới và bài xích cái học từ chương và cử nghiệp.

Cùng với Lê Văn Huân và Đặng Nguyên Cẩn lập ra Triều Dương thương điếm ở Vinh. Có Phan Chu Trinh và nhiều chí sĩ xứ Quảng đã từng đến tận Trảo Nha để cùng thương thảo đại cuộc nước nhà.

Năm 1903 (Quý Mão)

Cùng những trí thức lớn của xứ Nghệ như Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Tất Thành, Bùi Xuân Phong, Hoàng Xuân Hành, Đặng Nguyên Cẩn… ra bắc để họp với các bạn đồng tâm, đồng chí là Lương Căn Can, Võ Hoành, Hoàng Đạo Phương, Ngô Quang Đoan, Bùi Văn Thức, Đặng Xuân Bảng, Hoàng Tăng Phụng, Hoàng Tăng Bí, Lương Trúc Đàm, Lương Ngọc Quyến… để mưu sự cứu nước, rửa nhục nô lệ.

Khi đi qua Thanh Hoá có viết bài thơ chữ Hán: Lởm chởm núi chạy qua/Hỏi đường ra Thanh Hoa/Xứ này vốn nhiều đá/Đầu dân cũng cứng ha? (Bản dịch của Ngạn Xuyên)

Năm 1904 (Giáp Thìn)

Phan Chu Trinh ra gặp để đàm đạo.

Năm 1905 (Ất Tỵ)

Phan Bội Châu trước khi đi Nhật Bản, thông qua lời giới thiệu của Đặng Nguyên Cẩn đến gặp và đề nghị mở mang tri thức, bồi dưỡng nhân tài cho phong trào Đông Du.

Năm 1906 (Bính Thân)

Họp cùng Phan Bội Châu trên thuyền ở sông Lam để xác lập tôn chỉ kinh doanh cho Triêu Dương thương quán.

Trong tác phẩm Phan Bội Châu tự phán viết: “Tôi đem các giấy tờ thủ bút ông Lương cho cụ Thai Sơn xem. Cụ đọc các giấy xong, trong giấy có nói cách trù hoạch, định tổ chức Hoa kiều Viện Việt hội. Cụ nhân nói với tôi rằng, chúng ta nên ở trong nước, nhân phong triều này, tổ chức ra các hội nông, thương, học, khiến cho người ta biết có đoàn thể, đặng sau dễ cổ động tấn hành. Việc này để tôi với anh em Tập Xuyên, mấy ông xem tính với nhau. Tôi (Phan Bội Châu) cực lực tán thành. Đến ngày sau, Triêu Dương Thương quán và nông hội, học hội ở mọi nơi lần lượt sáng lập, thảy là nơi tôn chỉ đó”.

Cùng Ðặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân góp vốn lập cơ sở Triêu Dương thương quán ở Vinh, tỉnh Nghệ An để buôn bán hàng nội hóa và các sách tân thư của Đông Kinh Nghĩa Thục với mục đích góp phần nâng cao ý thức độc lập dân tộc theo chủ trương dùng hàng nội hóa, tẩy chay hàng hóa của Pháp, đồng thời lấy phần lãi bán được trích ra nhằm tạo nguồn tài chính cho phong trào Đông du, Duy Tân.

Việc kinh doanh của Triêu Dương Thương quán rất phát đạt, đặc biệt là tại thành phố Vinh, nơi là đầu mối giao thương quan trọng giữa tỉnh Nghệ An với các tỉnh miền Trung Việt Nam, cả đường bộ lẫn đường biển. Học tập theo gương kinh doanh của Triêu Dương Thương quán, nhiều cá nhân hoặc các hội nhóm đã hợp lực hùn vốn để kinh doanh với các cửa hiệu buôn tạp hóa, vải vóc, hương liệu, thuốc Bắc, thuốc Nam được mở trên khắp vùng Nghệ – Tĩnh. Điển hình như hiệu Mộng Hanh buôn tơ lụa (ở Chợ Trổ – Can Lộc) của chí sĩ Lê Văn Huân, cửa hàng Đông Thái (Đức Thọ), các cửa hàng tại chợ Cồn, chợ Huyện (Can Lộc), chợ Ngạn (Thạch Hà), chợ Đình (Nghi Xuân), chợ Voi (Kỳ Anh), chợ Vực (Cẩm Xuyên)… Nhiều trí giả giỏi Đông y còn mở hiệu thuốc Bắc, thuốc Nam ở các huyện lỵ Thạch Hà, Hương Sơn, Nghi Xuân… Ông Lê Võ mạnh dạn lập trang trại ở Cộng Khánh, Nghi Xuân. Các hội tương tế còn mở các lớp dạy chữ quốc ngữ phạm vi nhỏ, đặt ở những gia đình có uy tín để khai dân trí, vận động xuất dương du học.

Năm 1907 (Đinh Mùi)

Nhà Nguyễn – Duy Tân 2

Tháng (Giêng) về Hà Nội gặp Phan Bội Châu

Mùa thu, người Pháp ra tay đàn áp, Triêu Dương thương quán bắt buộc phải đóng cửa.

Tham gia Ban tu thư và giảng dạy, diễn thuyết ở Đông Kinh Nghĩa Thục. Soạn Văn minh tân học sách – Cương lĩnh Giáo dục và học thuật

Tháng 11 bị thực dân Pháp bắt giam, kết án “giảo giam hậu” (giam lại để sau treo cổ). Trong ngục, dùng thơ văn để cổ vũ phong trào, bày tỏ tình cảm thắm thiết của mình đối với gia đình, quê hương, đất nước.

Năm 1908 (Mậu Thân)

Được giảm án xuống chung thân và bị đày đi Côn Lôn (Côn Đảo) cùng 26 chí sĩ yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá… phải làm việc khổ sai nặng nhọc như đốn cây, cưa gỗ… sau giờ làm vẫn tranh thủ, mày mò tự học tiếng Pháp. Huỳnh Thúc Kháng có một quyển Pháp – Việt từ điển của Trương Vĩnh Ký, sau mua thêm vài cuốn Tập đọc, Ngữ pháp cùng một quyển Lịch sử nước Pháp, cùng vài ba người nữa hằng ngày làm việc xong, trở về khám thì cùng nhau học tiếng Pháp. Tự học tiếng Pháp nên nghe và nói hay sai vận và không được lanh lẹ, song đọc sách hiểu nghĩa, đặt câu và phiên dịch biết được đại khái

Nghe tin Ngư Hải Đặng Thái Thân (1874-1910), một thành viên chủ chốt của Duy Tân hội nổ súng chống giặc rồi tự sát để giữ tròn khí tiết, bèn làm bốn bài khóc chữ Hán, trong đó những câu (bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng):

          Mười năm lo nước máu sôi lòng
          Thề quyết xoay nên cuộc gió giông
          Nếu được sanh tài đều thế cả
          Ngàn thu Hồng Lạc lửa hương nồng.

Kỷ niệm sau một năm đến Côn Lôn, bèn viết: Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn/ Bách chiết thiên ma khí thượng tồn. N.S.Đ dịch thơ:

          Ngày này, năm trước đến Côn Lôn
          Mài bẻ nghìn muôn, chí khí còn
          Riêng nỗi nhớ nhà luôn rấm rứt
          Áo tù ướt mãi nước mắt tuôn

Khi thấy người bạn tù là Phong Niên được vợ gửi chăn ra từ đất liền, bèn viết (bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng):

          Chỉ đỏ mền bông lắm mối manh
          Chỉ bao nhiêu mối, thiếp bao tình
          Mền đôi biết hẳn là chưa ấm  
          Nhớ chăng, đôi mày kém nét xanh …

Nghe các chiến sĩ tham gia khởi nghĩa Thái Nguyên (cùng bị đày Côn Đảo) về sự hy sinh của Đội Cấn và người đồng chí Lương Ngọc Quyến bèn viết một tập ký sự bằng thơ chữ Hán là Đề Thái Nguyên thất nhật quang phục ký (Ghi chép về 7 ngày giành lại Thái Nguyên).

Năm 1912 (Nhâm Tý)

Bố qua đời

Năm 1921 (Tân Dậu)

Nhà Nguyễn – Khải Định 5

Được ra tù, trở về đất liền. Pháp và Nam triều dụ nếu chịu “tạ tội” thì chúng sẽ cho phục hồi học vị Tiến sĩ và cho ra làm quan. Bèn từ chối, mà hoạt động công khai trên mặt trận văn hóa chống lại kẻ thù.

Năm 1922 (Nhâm Tuất)

Tháng 12 đệ đơn lên Công sứ Hà Tĩnh xin ra Hà Nội sinh sống. Không đợi trả lời, bèn cứ ra Hà Nội, thuê nhà ở số 14 phố Hàng Điếu, kiếm sống bằng nghề viết chữ Hán cho một hiệu đối trướng. Bị Chánh mật thám Trung kỳ bác đơn nhưng Nha mật thám Đông Dương thì thừa nhận như “một sự đã rồi”, không trục xuất trở về quê cũ để giám sát sẽ chặt chẽ hơn.

Năm 1923 (Quý Hợi)

Nhận lời mời làm Chủ bút tạp chí Hữu Thanh của Hội Trung – Bắc kỳ Nông Công Thương tương tế, đồng thời sáng tác văn thơ, thực hiện sự nghiệp “khai dân trí, chấn dân khí”, cổ động tinh thần yêu nước của đồng bào. Trên tạp chí Hữu Thanh, viết bài phê phán mạnh mẽ tư tưởng Pháp – Việt đề huề, chống lại “cuộc chinh phục tinh thần” của thực dân Pháp; viết một số bài “đả kích thơ văn lãng mạn và quyết liệt bài xích vạch trần âm mưu chính trị và những tư tưởng sai trái của tạp chí Nam Phong (đứng đầu là Phạm Quỳnh).

Trong bài Luận về chánh học cùng tà thuyết, quốc văn, Kim Vân Kiều, Nguyễn Du đọc trước Hội Khai trí tiến đức nhân ngày giỗ Nguyễn Du, có đoạn: “Ông Nguyễn Du dịch Kiều từ đời Gia Long; thế thì từ Gia Long về trước, chưa có Truyện Kiều thì nước ta không có quốc hoa, không quốc túy, không quốc hồn; thế thì cái văn tự vũ công mấy triều Đinh, Lý, Trần, Lê sáng chói rực rỡ đó, đều là ở đâu đem đến cho bọn “học thuê viết mướn” ấy mà thôi; thế thì những bậc đại hào kiệt, đại huân nghiệp cứu dân giúp nước, tái tạo giang sơn, mở mang bờ cõi nước ta ngày xưa, không ai làm được vẻ vang cho nòi giống, không ai đáng kỷ niệm cả ?…”

Giới thiệu tiểu sử và học thuyết Darwin

Cuối năm, viết bài Khảo về học thuyết của hai ông tổ văn minh đời nay để giới thiệu hai nhà triết học Bacon (1561-1626) và Descarts (1596-1650).

Sáng tác bài thơ Hỏi Gia Long

Năm 1924 (Giáp Tý)

Đăng các bài nghị luận: “Nền quốc văn”, “Luận về chính học cùng tà thuyết”.

Năm 1926 (Bính Dần)

Viết và đọc điếu văn trong đám tang Phan Chu Trinh: “Trượng phu bốn biển là nhà, chí sĩ vợ con là nước; bậc đại nhân có quản chi sống chết, tấm linh hồn còn tỏ với non sông”

Tờ báo Hữu Thanh bị đóng cửa

Năm 1927 (Đinh Mão)

Nhà Nguyễn – Bảo Đại 2

Cộng tác với Huỳnh Thúc Kháng làm báo Tiếng dân.

Mở Giác quần thư xã để xuất bản một số sách tiến bộ, trong số đó có “Phan Tây Hồ di thảo” của nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, soạn “Đông Tây vĩ nhân”

Năm 1929 (Kỷ Tỵ)

Ngày 10/12 qua đời trong cảnh nghèo nàn, thanh bạch.

5. Tác phẩm và công trình tiểu biểu

Trước tác có thể đển nghìn bài nhưng hiện chỉ còn 33 bài thơ và một số bài văn xuôi, nghị luận.

– Phan Tây Hồ di thảo (Bản thảo để lại của Phan Tây Hồ)

Đông Tây vĩ nhân (Vĩ nhân Đông Tây)

Thái Nguyên thất thật quang phục ký (Ghi chép về 7 ngày giành lại Thái Nguyên).

Thiên nhiên học hiệu ký (Ghi chép về trường học thiên nhiên)

Sở am tập (Tập văn về những điều am tường)

Bài thơ Nền quốc văn (báo Hữu thanh, 4/1924)

Bài thơ Hỏi Gia Long

Luận về chánh học cùng tà thuyết (báo Hữu thanh, 9/1924)

Quốc văn Kim Vân Kiều Nguyễn Du

6. Vinh danh và giải thưởng

Người đầu tiên sưu tầm và công bố thơ văn của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh.

 Người đầu tiên giới thiệu tiểu sử và học thuyết Darwin

Nhân dân gọi là Ngô Nhân Tổ (người cụ tổ họ Ngô) hoặc Ngô Việt Hành (hành tinh đất Ngô – Việt)

Mộ táng ở Tương Mai.

Năm 1992 (Nhâm Thân)

Đích tôn là Giáo sư tiến sĩ Ngô Đức Thọ cùng họ tộc và chính quyền địa phương cải táng, đưa về an nghỉ trên Đồi Nghèn, trong khu Di tích lịch sử văn hóa của dòng họ.

a) Tên đường

Tên được đặt cho một số con đường ở Tp. Hồ Chí Minh, Nha Trang, Tp. Cần Thơ, Tx. Bà Rịa…

– Đường Ngô Đức Kế tại hai phường Thuận Thành và Thuận Lộc, thuộc khu vực Thành Nội, Tp. Huế. Khởi đầu từ đường Ông ích Khiêm (tiếp giáp tại ngã tư giao nhau các đường Tống Duy Tân, Xuân Sáu Tám), chạy qua ngã tư các đường Đinh Công Tráng, Hàn Thuyên, Mai Thúc Loan, Nhật Lệ, Tịnh Tâm, dài 1050m. Hình thành từ đầu thế kỷ XIX. Nguyên nền đường rải đất biên hòa, sau 1975 mới đổ nhựa. Từ 1955 trở về trước là đường Chợ Xép (lấy tên chợ Xép Thành nội nằm cạnh đường). Sau năm 1956, đổi đặt lại tên mới là đường Ngô Đức Kế cho đến nay. Dân gian Huế vẫn thường gọi là đường Chợ Xép.

– Đường Ngô Đức Kế tại Vinh Tân, Tp. Vinh, Nghệ An.

– Đường Ngô Đức Kế tại Tp. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Chiều dài: 630 m; Lộ giới: 13 m; Cấp đường: IV; Điểm đầu, điểm cuối: Đường Phạm Ngọc Thạch, Đường Phan Bội Châu

b) Tên trường

Tên đặt cho một số ngôi trường

c) Tượng đài

Tượng được dựng tại Công viên Tuy Phước, thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

7. Tham khảo

a) Internet

nhandan.com: Trượng phu bốn bể là nhà,chí sĩ vợ con là nước

vi.wikipedia.org: Ngô Đức Kế

kinhtedothi.vn: Chí sĩ Ngô Đức Kế – Người trọn đời trung hiếu, kiên cường

doanhnhansaigon.vn: Doanh nhân Ngô Đức Kế: Giỏi kinh tài, thạo nghề báo (Kỳ 1)

waze.com: map

baohatinh.vn: Ngô Đức Kế – Chí sĩ quê Can Lộc

b) Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Họ Ngô Việt Nam-Lược sử-Sự kiện-Nhân vật-Hệ phả của Ngô Đức Thắng (2000 Canh Thìn, Hà Nội)

Từ điển văn học (2004 Giáp Thân, NXB Thế giới)

Thành ngữ – điển tích – danh nhân từ điển (1966 Bính Ngọ, Sài Gòn)

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học xã hội)

Đại cương lịch sử Việt Nam ( 2006 Bính Tuất, Nhà xuất bản Giáo dục)

Đại Nam Liệt truyện Chính biên Nhị tập (1993 Quý Dậu, NXB Thuận Hoá)

Quốc triều hương khoa lục do dịch giả Nguyễn Thuý Nga và Nguyễn Thị Lâm (1993 Quý Dậu, NXB Tp. Hồ Chí Minh)

Châu bản triều Duy Tân do Nguyễn Thế Anh dịch

Quốc triều khoa bảng lục

Tự phê phán của Phan Bội Châu, dịch giả Tôn Quang Phiệt (1955 Ất Mùi, Ban NC Văn Sử Địa xuất bản)

Bác Hồ những ngày sau Cách mạng tháng Tám của Sơn Tùng (1991 Tân Mùi, An ninh Thủ Đô)

Bài viết có thể có dị bản chưa kiểm chứng và sẽ luôn cập nhật. Mọi đóng góp vui lòng gửi về:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *