Hồ Thơm (1753 – 1792)
1. Thông tin
– Tên khai sinh: Hồ Thơm (胡𦹳) hay Nguyễn Huệ (阮惠) hay Nguyễn Văn Huệ (阮文惠) hay Nguyễn Quang Bình (阮光平)
Tự xưng: Bắc Bình vương
Dân gian gọi: Đức ông Bình hay Đức ông Tám
Niên hiệu: Quang Trung (光中) hay Quang Trung Hoàng đế (光中皇帝)
Thuỵ hiệu: Thái tổ Vũ Hoàng đế (武皇帝)
Miếu hiệu: Tây Sơn thái tổ (西山太祖) hay Thái tổ (太祖)
– Sinh năm 1753 (Quý Dậu) tại Bình Định, Đàng Trong, Đại Việt (nay là Tt. Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, Việt Nam)
Mất ngày 29/7/1792 (16/9/Nhâm Tý) (39 tuổi) tại Phú Xuân, Đại Việt (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là hoàng đế thứ 2 nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Hồ Phi Tiễn và bà nội là Nguyễn Thị Đồng
– Bố là Hồ Phi Phúc
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với vợ là:
+ Chính cung hoàng hậu: Phạm Thị Liên, Bùi Thị Nhạn
+ Bắc cung hoàng hậu: Lê Ngọc Hân
+ Tiệp dư: Sở Nguyệt Thị, Nguyễn Thị Bích
+ Thê thiếp: Người hầu, Phạm Thị Đương, Lê Thị, Trần Thị Quỵ.
– Có 21 người con: (13 con trai và 8 con gái)
Con trai:Nguyễn Quang Thuỳ, Nguyễn Quang Bàn, Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thiệu, Nguyễn Quang Khanh, Nguyễn Quang Đức và 2 con trai, Nguyễn Quang Cương, Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Điện, Nguyễn Quốc Thất và Nguyễn Quốc Duy.
Con gái: 2 gái, Nguyễn Thị Bảo Ngọc và 5 người khác
3. Con người và tính cách
a) Thần thái
Theo sách Quang Trung anh hùng dân tộc thì: Nguyễn Huệ tóc quăn, da sần, mắt như chớp sáng, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm
Sách Tây sơn thuật lược (西山述略) miêu tả: Tóc Huệ quăn, mặt mụn đầy, có một con mắt nhỏ, nhưng mà cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu…
Nhà sử học Phan Huy Lê đánh giá: Quang Trung không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một nhà chính trị có biệt tài
b) Tình cảm
Giáo sĩ Labartette mô tả Nguyễn Huệ là người mềm yếu khi mà công chúa Lê Ngọc Hân thường xuyên “mếu khóc” vuốt ve tự ái đấng trượng phu khi muốn đòi hỏi gì đó; hay Nguyễn Huệ phát cuồng vì có người vợ mất ở Phú Xuân. Chính tấm lòng say mê đó đem đổ vào cuộc đời Nguyễn Huệ, vào triều chính, ở chỗ chiến trường trở thành một sức quyến rũ lôi cuốn người khác. Về chiến trận, cũng sách này miêu tả “…là bực lão thủ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam thật là xuất thần quỷ nhập. Không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn cả sấm sét…”
Nguyễn Đình Giản nhận định “Bắc Bình Vương [Nguyễn Huệ] là một tay anh hùng […] Bắc Bình Vương là người rất quyệt, hay dùng trí thuật lao lung người khác, trong lúc bàn luận, khi xuống lại nâng lên người ta không biết đâu mà dò“.
Trần Công Xán nhận định “[Nguyễn Huệ là] người huyền bí khó lường“.
Chính sử Nhà Nguyễn mô tả “Nguyễn Văn Huệ là em Nhạc, tiếng nói như chuông, mắt sáng như điện, giảo, kiệt, thiện chiến? ai cũng phải sợ… Bốn lần đánh Gia Định, lúc ra trận đều đi trước, sĩ tốt hiệu lệnh nghiêm minh, thuộc hạ ai nấy dốc lòng vâng mệnh“.
4. Cuộc đời và sự nghiệp
Con thứ 8 trong gia đình có 8 anh chị em (1, 2, 3, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, 6, 7 và Hồ Thơm)
Năm 1753 (Quý Dậu)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 13 – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 13
Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương 15
Nhà ở huyện Tuy Viễn, phủ Hoài Nhơn
Theo anh trai là Nguyễn Nhạc vào Tây Sơn quản lãnh nhóm người vô lại và nghèo đói, lập nhóm đánh cướp đồn ấp. Lực lượng có nhiều nhóm cư dân sở tại, bao gồm người Việt, người Thượng và người Hoa ở Tây Sơn. Có cả những người làm cướp như Nhưng Huy, Từ Linh ở vùng An Tượng, đám quân người Hoa của Tập Đình, Lý Tài…
Cùng 2 người anh làm học trò cho Giáo hiến ở An Thái
Năm 1771 (Tân Mão) khi 18 tuổi
Theo anh trai cất binh khởi nghĩa, xây căn cứ chống chính quyền của chúa Nguyễn, với danh nghĩa diệt trừ quyền thần Trương Phúc Loan, tôn phò Nguyễn Phúc Dương. Nhận nhiệm vụ xây dựng kinh tế và huấn luyện quân sự, với sự ngầm trợ giúp về mặt tâm lý của thầy giáo Hiến, nhanh chóng xây dựng được uy tín cho lực lượng Tây Sơn và cả cho cá nhân mình. Chẳng bao lâu sau, lực lượng của Nhà Tây Sơn mỗi ngày mỗi lớn và vững vàng. Những người hợp tác đầu tiên với Nhà Tây Sơn có Nguyễn Thung, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Trần Quang Diệu, Trương Mỹ Ngọc, Võ Xuân Hoài, Ngô Văn Sở. Về sau, kẻ sĩ gần xa đến hưởng ứng thêm đông. Lực lượng Tây Sơn không những đánh đâu thắng đó mà còn nổi tiếng vì bình đẳng, bình quyền, không tham ô của dân và lấy của người giàu chia cho người nghèo.
Giáo sĩ Diego de Jumilla ghi lại trong sách Les Espagnols dans l’Empire d’Annam như sau: Ban ngày họ xuống các chợ, kẻ đeo gươm, người mang cung tên, có người mang súng. Họ không hề làm thiệt hại đến người và của. Trái lại họ tỏ ra muốn bình đẳng giữa mọi người Đàng Trong; họ vào nhà giàu, nếu đem nộp họ ít nhiều thì họ không gây tổn hại, nhưng nếu chống cự lại thì họ cướp lấy những của quý đem chia cho người nghèo; họ chỉ giữ gạo và lương thực cho họ mà thôi… Người ta gọi họ là bọn cướp đạo đức và nhân từ đối với quần chúng nghèo khổ…
Quân Tây Sơn đánh chiếm các huyện, thành, thôn ấp, tuần phủ Quy Nhơn Nguyễn Khắc Tuyên cùng đề đốc Lý Trình đi đánh dẹp. Quân Khắc Tuyên đến Phù Ly gặp quân Tây Sơn. Hai bên giao chiến, bị chém chết Lý Trình, Khắc Tuyên bỏ chạy về Quy Nhơn.
Năm 1773 (Quý Tỵ)
Anh em Tây Sơn hạ được thành Quy Nhơn.
Năm 1775 (Ất Mùi)
Làm chủ tướng mang quân vào Nam đánh bại Nguyễn Tống Phước Hiệp, bắt sống Nguyễn Khoa Kiên, giết Nguyễn Văn Hiền. Tướng của Chúa Nguyễn ở Bình Khang là Bùi Công Kế mang quân ra cứu cũng bị bắt sống. Tướng Chúa Nguyễn khác là Tống Văn Khôi ở Khánh Hoà ra đánh cũng bị giết tại trận. Lập công lớn được Nguyễn Nhạc xin với Hoàng Ngũ Phúc phong cho làm Tây Sơn hiệu tiền tướng quân.
Tháng 11 nhân lúc quân Nguyễn bị thiếu lương do mất mùa, liền từ Phú Yên ra đánh tan quân Nguyễn do 2 người con của Chúa Nguyễn Phúc Khoát chiếm đóng, lấy lại Quảng Nam.
Năm 1776 (Bính Thân)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 36 – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 9
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 11/Tân Chính Vương 1
Nguyễn Nhạc phong cho làm Long Nhương tướng quân.
Năm 1777 (Đinh Dậu)
Tháng 3 Nguyễn Nhạc cử làm tướng mang thủy quân vào đánh Gia Định, khiến Lý Tài thua trận bỏ chạy khỏi thành và đưa 2 Chúa Nguyễn về Hóc Môn. Bèn 2 chia đường, một cánh quân đánh Nguyễn Phúc Thuần, Đỗ Thanh Nhân tại Tranh Giang; cánh khác đánh Nguyễn Phúc Dương, Trương Phúc Thận tại Tài Phụ. Nguyễn Phúc Thuần và Đỗ Thanh Nhân phải bỏ chạy về Cần Thơ cầu viện Tổng binh Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ, còn Nguyễn Phúc Dương bỏ chạy về Ba Việt (Bến Tre). Tiến công đánh bại Mạc Thiên Tứ.
Tháng 9 mang quân bao vây tấn công Ba Việt, bắt sống Nguyễn Phúc Dương và toàn bộ quân tướng.
Tháng 10 đưa Dương và 18 tướng tuỳ tùng về Gia Định xử tử.
Năm 1778 (Mậu Tuất)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 38 – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 11
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 1
Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức. Được phong cho là Long Nhương tướng quân.
Năm 1782 (Nhâm Dần)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 42 – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 15/Điện Đô vương 1/Đoan Nam vương 1
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 4
Tháng 3 cùng vua Thái Đức mang quân thủy bộ Nam tiến, phá tan quân Nguyễn, giết chết cai cơ người Pháp là Manuel (Mạn Hoè). Nguyễn Ánh bỏ chạy về Hậu Giang.
Năm 1783 (Quý Mão)
Tháng 2 vua Thái Đức sai cùng anh trai là Nguyễn Lữ mang quân Nam tiến. Điều quân phá tan tuyến phòng thủ khiến Nguyễn Ánh buộc phải bỏ chạy về Đồng Tuyên. Thừa thắng, đánh phá Đồng Tuyên, Nguyễn Ánh lại bỏ chạy ra Hà Tiên rồi trốn ra đảo Phú Quốc.
Tháng 8 dẫn quân truy kích, Nguyễn Ánh chạy một vòng ra các đảo Cổ Long, Cổ Cốt rồi lại quay về Phú Quốc. Quân Tây Sơn vây đánh nhưng lúc đó có bão biển, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra, sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, Nguyễn Ánh thừa cơ lại trốn thoát, chạy hẳn ra đảo Thổ Chu cách xa đất liền rồi đầu năm sau tự mình sang Xiêm cầu viện.
Năm 1784 (Giáp Thìn)
Tháng 2 nhận lệnh vua đem binh vào Gia Định chống giữ quân Xiêm. Đánh vài trận nhưng không thắng, có ý rút binh nhưng một tướng của Nguyễn Ánh là Lê Xuân Giác về hàng bày mưu phục binh. Mưu hợp ý bèn nghe theo, liền cho bố trí trận địa và nhử quân Xiêm đến gần Rạch Gầm và Xoài Mút (ở phía trên Mỹ Tho) để đánh một trận lớn tiêu diệt quân Xiêm.
Năm 1785 (Giáp Thìn)
Ngày 20/1 (đêm 9 rạng 10/12) quân Xiêm lợi dụng thủy triều xuôi theo dòng sông để tấn công Mỹ Tho nhằm phá vỡ đội thuyền phòng thủ của Tây Sơn. Quân Tây Sơn giả thua rút dần về hướng Mỹ Tho, nhử đối phương lọt vào trận địa mai phục đoạn Rạch Gầm-Xoài Mút. Quân Xiêm quen mùi thắng nên tiến vào trận mai phục của Tây Sơn, khi quân Xiêm lọt vào trận mai phục, bất ngờ quân Tây Sơn sử dụng pháo bắn uy hiếp dữ dội ở cù lao Thới Sơn và bờ sông Tiền, khóa chặt hai đầu, dồn quân Xiêm vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Bên cạnh đó, pháo hỏa hổ ở hai bên bờ nã đạn tới tấp vào đội hình làm quân Xiêm rối loạn, tinh thần hoang mang rồi bỏ chạy. Cùng lúc đó, một đội thuyền cảm tử chở đầy rơm và những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào thuyền quân Xiêm làm cho số bị chìm, số bị cháy. Trong khi đó, cánh quân bộ Xiêm La ngay từ đầu đã bị quân Tây Sơn chặn đánh không cho cứu viện. Trận đánh diễn ra không đầy một ngày, 2 vạn quân Xiêm bị tiêu diệt gần như hoàn toàn, số còn sống sót chỉ được vài nghìn người chạy theo đường thượng đạo trốn về nước. Cánh quân bộ nghe tin thất trận cũng tan rã và tháo chạy. Đánh dẹp xong, liền đem quân về Quy Nhơn để đô đốc là Đặng Văn Trấn ở lại trấn đất Gia Định. Phần mình, chỉ huy quân Tây Sơn tiến ra Quảng Bình, thủ tướng quân Trịnh ở đây bỏ chạy, chiếm được toàn bộ đất Thuận Hóa. Bèn họp các tướng bàn việc sửa lại địa giới La Hà; đồng thời sai làm tờ “lộ bố” (thư báo tin thắng trận) báo tin thắng trận về cho Nguyễn Nhạc. Nguyễn Hữu Chỉnh khuyên xua quân ra Bắc mà chiếm đất Bắc Hà, cảm thấy do dự, Nguyễn Hữu Chỉnh nói rằng:
– Sách địa ký của họ Trịnh có câu Phi đế phi bá, quyền khuynh thiên hạ, truyền tộ bát đại, tiêu tường khởi hoạ (Chẳng đế chẳng bá, quyền nghiêng thiên hạ, truyền được tám đời, trong nhà dấy vạ). Họ Trịnh cầm quyền đã 200 năm, đủ 8 đời chúa, nay sắp bị diệt là đúng với câu ấy.
Bèn cho Nguyễn Lữ ở lại Phú Xuân, sai Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn thủy binh đi trước, còn mình đi sau hậu ứng.
Năm 1786 (Ất Tỵ)
Nhà Lê – Cảnh Hưng 46 – Hiển Tông
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 7
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 4/An Đô vương 1
Tháng 6 Chỉnh báo tin đã chiếm được kho lương lớn ở Vị Hoàng (Nam Định) bèn thuận theo gió nồm tiến ra. Tướng của Chúa Trịnh là Đinh Tích Nhưỡng đem thủy binh ra giữ ở cửa Luộc, không tiến được; đến đêm thấy có gió đông nam liền bày binh lừa Tích Nhưỡng sai lấy tượng gỗ bỏ lên mấy chiếc thuyền, rồi đánh trống kéo cờ thả thuyền trôi đi. Tích Nhưỡng bắn cho đến hết thuốc súng mới biết bị lừa, liền bỏ chạy. Quân Tây Sơn tiến tới Thanh Trì quận Thạc bỏ chạy, 6 người con bị giết, Trịnh Khải tự lên voi giao chiến với Tây Sơn, rốt cuộc thua chạy, bỏ lên Sơn Tây, sau đó tự sát. Cho quân chôn Trịnh Khải theo nghi lễ của bậc đế vương.
Điều quân tiến vào thành Thăng Long, cấm quân lính cướp phá dân gian. Sai viên tỳ tướng đệ dâng bản tâu, trước hết bày tỏ lễ ý xin thăm hỏi sức khỏe nhà vua, sau nữa xin định ngày sẽ vào triều bái yết.
Nhà vua triệu kiến ở điện Vạn Thọ, có một giường khác bên cạnh giường vua ngự. Sợ thất lễ nên không dám ngồi, vua ép mãi mới ngồi ghé vào cạnh chiếu, rồi tâu bày về lý do lật đổ họ Trịnh và tôn phù nhà Lê. Vua Lê phong cho làm Nguyên Soái Uy Quốc Công, và được lời mai mối của Nguyễn Hữu Chỉnh nên vua lại gả cho Ngọc Hân Công Chúa, tổ chức hôn lễ tại phủ chúa Trịnh.
Dâng sổ quân sĩ, dân đinh tại điện Kính Thiên để tự đó về sau nhà Lê có quyền tự chủ, được vua ban hành chiếu thư về việc nhất thống để bá cáo cho trong kinh ngoài trấn biết.
Ngày 10/8 (17/7) vua Lê Hiển Tông qua đời. Hoàng Tôn là Duy Kỳ lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Thống. [Nguyễn Nhạc thấy lâu không về, sợ sinh biến, bèn dẫn quân ra Bắc]. Hai anh em bàn chuyện đem quân trở về Nam, tất cả lương thực, kho tàng,… đều đem về Nam hết, để lại cho vua Lê một kho tàng trống không. Thấy Nguyễn Hữu Chỉnh xảo quyệt, nên muốn bỏ ở lại. Liền trò chuyện riêng với Hữu Chỉnh suốt cả ngày. Trong khi Tây Sơn thu dọn để về Nam, hòng không cho Chỉnh biết. Đến sáng, Chỉnh thấy quân Tây Sơn về hết, liền chạy về theo dù bị dân kinh kỳ đuổi bắt may chạy thoát, đến đất Nghệ An, Nguyễn Nhạc cho một ít tiền, bảo lưu lại đó. Khi dẫn quân về đến Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc phong vương cho 2 người em và ban cho cai quản đất phong: Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn; Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định; Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất Thuận Hóa, lấy núi Hải Vân làm giới hạn. Thế nhưng mâu thuẫn với anh trai Nguyễn Nhạc lại xảy ra ngày càng lớn.
Năm 1787 (Mậu Thân)
[Vua Tây Sơn vốn không có ý đánh ra Bắc Hà, chỉ muốn chiếm Nam Hà; việc Huệ đánh Bắc Hà là trái ý, lại thấy ở Bắc Hà lâu quá sau khi thắng nên đâm ra lo sợ. Nguyễn Nhạc phẫn chí, giết công thần Nguyễn Thung].
Đem quân đánh với Nguyễn Nhạc, tổng động viên chừng 6 vạn tới 10 vạn quân. Tiến đến vây thành Quy Nhơn, đắp thành đất, bắn đại bác vào thành. Rồi giảng hòa, lui quân, giữ từ Thăng Hoa, Điện Bàn trở ra Bắc, đóng ở Phú Xuân. Đánh tan tướng của Nhạc là Đặng Văn Chân từ Gia Định đến, Văn Chân tới hàng. Nguyễn Nhạc phải lên mặt thành khóc xin
– Nỡ lòng nào mà nồi da xáo thịt như thế.
Nể tình anh em, thôi hãm thành và bằng lòng giảng hòa với Nguyễn Nhạc, rồi rút về Thuận Hóa.
Xuống lệnh cầu hiền tìm kiếm quan lại của triều cũ, các danh sĩ Bắc Hà đến đầu quân có Trần Văn Kỉ.
Ngô Văn Sở đến trình diện và Đặng Tiến Đông,
Ngô Thì Nhậm mừng mà rằng:
– Thật là trời để dành ông cho ta vậy
Một số thân sĩ Bắc Hà khác như Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch; các tiến sĩ Ninh Tốn, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan; Đoàn Nguyễn Tuấn; Vũ Huy Tấn; Nguyễn Huy Lượng
Thấy tình hình Nam, Bắc đều có biến nên quyết định giải quyết vấn đề phía bắc trước. Liền phái Vũ Văn Nhậm, con rể của Nguyễn Nhạc, ra tiêu diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Nhưng đã có lòng nghi Vũ Văn Nhậm sẽ phản trắc, cho nên lại sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm Tham tán quân vụ để chia bớt binh quyền.
Tháng 4 nhận thư Ngô Văn Sở rằng Nhậm có ý cậy tài và kiêu ngạo, lập tức truyền lệnh kéo quân kỵ, đêm ngày đi gấp đường ra Thăng Long, nửa đêm đến nơi bắt Vũ Văn Nhậm giết đi, rồi truyền gọi các quan văn võ Nhà Lê cho vào yết kiến, đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ, để Lê Duy Cận làm giám quốc, chủ trương việc tế lễ, dùng Ngô Thì Nhậm làm Lại Bộ Tả Thị Lang. Dặn rằng:
– Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngôn là lòng dạ của ta. Nhậm là bề tôi mới của ta. Nay ta lấy cái việc quân vụ và quốc chính của 11 trấn Bắc Hà ủy thác cho. Ta thuận cho theo tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa nhau.
Năm 1788 (Mậu Thân)
Nhà Lê – Cảnh Hưng 48 – Hiển Tông
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 10/Quang Trung 1
Tháng 4 Ngô Thì Nhậm khuyên lên ngôi hoàng đế, đồng thời vận động các quan lại Nhà Lê suy tôn cho hợp cách. Có ba bức thư suy tôn của quần thần Nhà Lê, cùng một chiếu chỉ trưng cầu ý dân Bắc Hà về việc lên ngôi nhưng tình hình chưa thuận lợi. Bèn sắp xếp mọi việc, để Ngô Văn Sở ở lại giữ Bắc Hà, còn mình về Phú Xuân, đem theo một số văn thần.
[Nguyễn Nhạc tuổi cao lắm bệnh, bất lực không thể cứu ứng Nam Bộ, nên ông chủ động xin nhường ngôi hoàng đế, tự giáng xuống là Tây Sơn vương, nhường hết đất đai và binh quyền, chỉ xin giữ lại thành Quy Nhơn để lo thờ cúng]
Tháng 11 tổng động viên binh lính ở Thuận Hoá, ngày đêm tập luyện. Tuy nhiên, chưa kịp tiến vào Nam thì lại nghe tin Nhà Thanh nghe lời Lê Chiêu Thống cầu viện, sai Tôn Sĩ Nghị mang chừng 29 vạn quân và dân công sang đánh vào Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”. Nghe tin báo, trước sự sợ hãi của nhiều người, bèn cười mà nói:
– Chó Ngô (chỉ quân Thanh) thì là cái thá gì, chúng đến đây chỉ để tự đi vào chỗ chết. Việc gì mà phải cuống quýt làm vậy?
Sai một bầy tôi tin cẩn là Diệm cầm thư vào Nam dặn tướng Phạm Văn Tham cố phòng thủ chờ tiếp viện.
[Dự kiến tiến ra Bắc Hà, để lấy danh nghĩa chính thống nên quyết định lên ngôi Hoàng đế]
Ngày 22/12 (25/11) tức tốc cho lập đàn Nam Giao ở núi Bân (cạnh núi Ngự Bình) làm lễ tế cáo trời đất. Sai mang đến cái mâm, trên để các đồng tiền, có phủ vải điều, rồi tuyên bố với quân sĩ:
– Ba quân hãy cùng ta quan sát, nếu cả hai trăm đồng tiền này đều sấp, thì đó là điềm trời báo chúng ta đại thắng. Nhược bằng, có đồng ngửa, thì đó là đại sự của chúng ta có điều trắc trở.
Chắp tay khấn vái, đặng bưng mâm tiền, cung kính dâng lên cao, rồi hất tung xuống sân. Quân sĩ thấy các đồng tiền nhất loạt đều sấp, reo hò mừng rỡ, tin chắc trận ra bắc sẽ thắng quân Thanh. Tuyên bố lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung (nghĩa là ánh sáng ở trung tâm). Chiếu lên ngôi của vua viết:
– Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần gây dựng ra nước cho đến ngày nay, thánh minh dấy lên không phải là một họ, nhưng thịnh suy, dài ngắn, vận mệnh do trời, không phải sức người tạo ra được. Trước đây Nhà Lê mất chính quyền, họ Trịnh và cựu Nguyễn chia bờ cõi. Hơn hai trăm năm nay, kỷ cương rối loạn, vua Lê chỉ là hư vị, cường thần tự ý vun trồng, giềng mối của trời đất một phen rơi xuống không nâng lên được, chưa có lúc nào hư hỏng quá như lúc này vậy. Vả lại mấy năm gần dây, nam bắc gây việc binh đao, nhân dân rơi vào chốn bùn than, Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm, về phần đại huynh (Nguyễn Nhạc) có ý mỏi mệt, tình nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây Vương, mấy nghìn dặm đất về phương nam thuộc hết về trẫm. Trẫm tự nghĩ tài đức không bằng người xưa, mà đất đai thì rộng, nhân dân thì nhiều, ngẫm nghĩ cách thống trị, lo ngay ngáy như dây cương mục chỉ huy sáu ngựa. Nay xem khí thần rất hệ trọng, ngôi trời thật khó khăn, trẫm chỉ lo không kham nổi, nhưng ức triệu người trong bốn bể đều xúm quanh cả vào thân trẫm, đó là ý trời đã định, không phải do người làm ra. Trẫm nay ứng mệnh trời, thuận lòng người không thể khăng khăng cố giữ sự khiêm nhường. Trẫm chọn ngày 25 tháng 11 năm nay lên ngôi thiên tử, đặt niên hiệu là Quang Trung năm đầu, truyền bảo cho trăm họ muôn dân phải tuân theo giáo lệnh của nhà vua. Nhân nghĩa, trung chính là đạo lớn của người, trẫm nay cùng dân đổi mới, vâng theo mưu mô sáng suốt của vua thánh đời trước, lấy giáo hóa trị thiên hạ.
Và đọc bài hịch “Lời hiếu dụ tướng sỹ” tại lễ lên ngôi.
Ngày 26 (29/11) đại quân tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng. Thi hành chính sách cưỡng bách tòng quân để thêm quân đánh Thanh, với nội dung như sau: Tất cả nam giới từ 12, 13 đến 60 tuổi đều phải đăng ký vào sổ đinh nam; từ 15 tuổi trở lên đều phải đi lính, người già và phụ nữ phải đi sửa cầu đường; cứ 3 suất đinh thì chọn lấy 1 người đi lính. Trong 10 ngày tuyển quân, đã có thêm khoảng mấy vạn quân, nâng tổng quân số lên tới 10 vạn. Được tổ chức thành 5 đạo: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân, ngoài ra còn có một đội tượng binh gồm 200 voi chiến. Cho tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ tinh thần và ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh. Ngay sau lễ duyệt binh, lệnh tiến quân ra Bắc Hà.
Gặp Nguyễn Thiếp tại Nghệ An bày tỏ hoài bão của mình là muốn xây dựng một nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, đảm bảo cung cấp mọi nhu cầu thiết yếu cho nhân dân.
Năm 1789 (Kỷ Dậu)
Ngày 15/1 (20/12) đại quân đến Tam Điệp, Ngô Văn Sở ra chịu tội, biết là Sở nghe mưu của Ngô Thì Nhậm, nên tha cho. Liền khen Nhậm, nói với các tướng:
– Các người đều là chiến tướng, tự nhiên gặp giặc là đánh, mà lâm cơ cần ứng biến thì không đủ tài. Mấy tháng trước, ta phải để Ngô Thì Nhậm ở lại, cộng sự với các ngươi, chính là lo sẵn cho chỗ đó.
Giao đem tiền quân tiến về Thăng Long. Sau khi xem xét tình hình và hẹn ba quân ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân Thanh, vào ăn Tết ở Thăng Long. Chia quân làm 5 đạo: một cánh do đô đốc Long chỉ huy từ làng Nhân Mục tập kích đồn Khương Thượng và phía tây Thăng Long; cánh đô đốc Bảo tiến đánh các đồn phía nam Thăng Long; trung quân do đích thân chỉ huy, phối hợp với đô đốc Bảo đánh diệt các đồn phía nam Thăng Long. Cánh đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc theo đường biển ra Bắc, chặn đường lui của địch ở phía bắc sông Nhị Hà và huyện Phượng Nhãn.
Ngày (30/Chạp) ban đêm, quân Tây Sơn đánh diệt đồn Gián Khẩu của các tướng Lê Chiêu Thống. Sau đó đánh diệt các đồn Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, dụ hàng được đồn Hà Hồi.
Ngày (4/Giêng) ban đêm, tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó cánh quân của đô đốc Long bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay, hàng vạn lính bỏ mạng. Chủ tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Xác quân Thanh chết sau thành 13 gò đống lớn, có đa mọc um tùm nên gọi là gò Đống Đa. Đô đốc Long tiến vào đánh phá quân địch phòng thủ ở Tây Long.
Ngày 5 buổi sáng, mới cùng đô đốc Bảo tổng tấn công vào đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh bị động thua chết hàng vạn, phần lớn các tướng bị giết, Tôn Sĩ Nghị nghe tin cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy trước. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây sơn đuổi theo, Tôn Sĩ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều làm dòng sông bị nghẽn dòng chảy. Trên đường tháo chạy, Tôn Sĩ Nghị bị hai cánh quân Tây Sơn của đô đốc Tuyết và đô đốc Lộc chặn đánh, tơi tả chạy về. Lê Chiêu Thống hớt hải chạy theo Nghị thoát sang bên kia biên giới. Quân Tây Sơn đuổi theo và rao lên rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Tôn Sĩ Nghị và Chiêu Thống mới thôi. Bởi thế dân Trung Quốc ở biên giới dắt nhau chạy làm cho suốt vài chục dặm không có người. Sớm hơn dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đã đánh tan quân. Buổi trưa, tiến quân vào thành Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân. Đặt ra chính sách cai trị:
– Về Chính trị: Coi mình là Hoàng đế, phong Phạm Thị Liên làm Chính Cung hoàng hậu, lập Ngọc Hân làm Bắc Cung hoàng hậu, lập con là Quang Toản làm Thái Tử. Lấy thành Nghệ An là đất giữa nước và lại là đất tổ khi xưa ở đó, mới sai thợ thuyền tải vận đá, gỗ, gạch, ngói, sửa sang đền đài cung điện, và sai quân các đạo đào lấy đá ong để xây nội thành, gọi là Phượng Hoàng Trung Đô. Cải thành Thăng Long là Bắc Thành, chia đất Sơn Nam ra làm hai trấn, gọi là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ. Mỗi trấn đặt quan trấn thủ và quan hiệp trấn. Mỗi huyện, văn thì đặt chức phân tri để xét việc kiện cáo, võ thì đặt chức phân suất để coi việc binh lương. Chia vùng cai quản thuộc đất Nhà Lê cũ thành các xứ (trấn) như sau:
- Xứ Đông (Hải Dương)
- Xứ Bắc (Kinh Bắc)
- Xứ Đoài (Sơn Tây)
- Xứ Yên Quảng
- Xứ Lạng (Lạng Sơn)
- Xứ Thái (Thái Nguyên)
- Xứ Tuyên (Tuyên Quang)
- Xứ Hưng (Hưng Hóa)
- Xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh)
- Sơn Nam Thượng (Hà Đông và Hà Nam)
- Sơn Nam Hạ (Nam Định và Thái Bình)
- Thanh Hóa ngoại (Ninh Bình)
- Thanh Hóa nội (Thanh Hóa).
– Về Quan chế: Bộ máy hành chính gồm: Tam công, Tam thiếu, Đại chủng tể, Đại Tư đồ, Đại Tư khấu, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư Lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Đô hộ, Đại đô đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Điểm kiểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy, Trung úy, Vệ Úy, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung Thư lệnh, Phụng Chính, Thị Trung đại học sĩ, Hiệp biện đại học sĩ, Lục Bộ Thượng thư, Tả – Hữu đồng nghi, Tả – Hữu phụng nghi, Thị Lang, Tư vụ, Hàn Lâm… Mỗi trấn đặt một trấn thủ về hàng võ và một hiệp trấn về hàng văn. Mỗi huyện đặt một văn phân tri, một võ phân suất, một tả quản lý và một hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng. Phận sự của quan võ là coi quản và thao diễn quân lính từ Đạo đến Cơ, từ Cơ đến Đội. Trong các xã, thôn thì có xã trưởng, thôn trưởng. Hàng tổng thì đặt Tổng trưởng (như chức Chánh Tổng về sau) để giữ việc hành chính trong một tổng. Lên kế hoạch để soạn một bộ luật tên là “Hình luật thư”. Ban “Chiếu cầu hiền” có đoạn:
– Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?… Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn – sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương.
Các cựu thần Nhà Lê cũ là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã ra giúp. Danh sĩ Nguyễn Thiếp sau nhiều lần từ chối, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp.
– Về phát triển Giáo dục: Chọn một quan văn 5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách. Quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” lệnh cho các xã phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò; trường học được phổ biến xuống tận cấp xã. Chỉnh đốn lại chế độ học tập và thi cử, gạt bỏ lối thi cử nặng về học thuộc lòng sáo rỗng, công thức của các thời trước, thay vào đó là lối học thiết thực hơn nhằm đào tạo những người có năng lực hoạt động thực sự, theo đúng tinh thần kết hợp học với hành. Bỏ lối thi cử khuôn sáo, thoát ly hẳn sự lệ thuộc vào văn tự của nước ngoài, chống chính sách đồng hoá của các triều đình phong kiến phương Bắc, cũng như thái độ coi khinh ngôn ngữ dân tộc của các giai cấp phong kiến trong nước.
– Về chỉnh đốn Tôn giáo: Đề cao Nho giáo nhưng vẫn bảo đảm hoạt động cho các tôn giáo khác như Phật giáo và các tín ngưỡng khác. Về Công giáo, các giáo sĩ được tự do hoạt động, truyền đạo, xây dựng nhà thờ. Nhưng đồng thời cũng thi hành chính sách bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.
– Về phát triển Sản xuất: Phân phối đất đai cho những nông dân nghèo, thúc đẩy thủ công nghiệp từng bị cấm trước kia. Chú trọng mở các xưởng đúc tiền, đúc vũ khí, đóng thuyền chiến, sản xuất những mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu của đất nước. Những xưởng đóng thuyền chiến phục vụ chiến tranh đã đóng được thuyền lớn mang nhiều đại bác, có thể chở được voi. Chính sách thuế nông nghiệp đơn giản với thuế ruộng là chính: ruộng chia ra làm ba hạng để đánh thuế nhất đẳng điền (150 bát thóc), nhị đẳng điền (80 bát thóc), tam đẳng điền (50 bát thóc). Lại thu tiền thập vật, mỗi mẫu một tiền và tiền khoán khố mỗi mẫu 50 đồng. Ruộng tư điền cũng đánh thuế: nhất đẳng điền mỗi mẫu nộp 40 bát thóc, nhị đẳng điền mỗi mẫu 30 bát, tam đẳng điền mỗi mẫu 20 bát. Tiền thập vật cũng theo như ruộng công điền, còn tiền khoán khố thì mỗi mẫu phải nộp 30 đồng Các loại thuế khác như thuế điệu, thuế nhân đinh được giảm để giảm bớt gánh nặng của dân chúng và phòng ngừa tham nhũng. Ngoài ra, triều đình còn ban lệnh các địa phương phải đảm bảo giải quyết hết diện tích ruộng đất bỏ hoang, nếu hết thời hạn vẫn bỏ hoang không khai khẩn thì ruộng công sẽ chiếu theo ngạch thuế thu gấp đôi, nếu là ruộng tư thì thu thành ruộng công. Ra lệnh những người lang thang, ngụ cư ở những nơi nhất thiết phải trở về nguyên quán làm ăn, chỉ trừ những người đã sinh cơ lập nghiệp ở xã khác được từ ba đời trở lên. Những xã nào chấp chứa những người trốn tránh, vi phạm pháp lệnh trên thì bản thân người trốn tránh và cả xã trưởng sở tại cũng bị trừng phạt. Bọn lưu manh, những người trốn tránh lao động vào ẩn nấp trong các chùa cũng phải hoàn tục trở về quê hương làm ăn.
– Về phát triển Ngoại thương: Mở rộng quan hệ buôn bán giữa Đại Việt với nước ngoài. Bãi bỏ chính sách ức thương mà chính quyền Lê-Trịnh trước đây áp dụng để tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông, thúc đẩy sản xuất phát triển. Khuyến khích giao thương giữa các thuyền của thương thuyền nước ngoài và các thương thuyền của Đại Việt.
– Về chính sách thuế khoá: Bãi bỏ nhiều thứ thuế phức tạp trước đây và giảm thuế cho người dân. Về thuế ruộng được chia làm hai loại, gồm ruộng công và ruộng tư với mức thuế khác nhau. Thuế nhân đinh, chỉ giữ lại thuế đinh, mỗi suất đinh hàng năm nộp chừng 1 quan 2 tiền (thời Chúa Trịnh thì mỗi suất đinh nộp 1 quan 2 tiền và 4 bát gạo, lại nộp thêm 6 tiền thuế điệu). Ra lệnh bãi bỏ thuế điệu cho nhân dân từ sông Gianh trở ra (tức khu vực Đàng Ngoài) nhằm mục đích “bớt thuế, thương dân”. Thuế thổ sản và thuế công thương nghiệp, cũng bãi bỏ một số mức thuế nặng nề trước đây để tạo điều kiện sản xuất và kinh doanh dễ dàng cho giới công thương. Riêng việc thông thương với Trung Quốc qua vùng biên giới thì được miễn thuế hoàn toàn.
Năm 1790 (Canh Tuất)
Tiến sĩ Nguyễn Nễ ra giúp.
Cử Ngô Thì Nhậm thương thuyết với nhà Thanh để mở một thương điếm tại Nam Ninh (Quảng Tây) mua bán hàng hoá giữa hai nước.
Cho con trai là Quang Thuỳ sang chúc thọ Bát tuần vua Thanh
Ổn định an ninh một dải đất dài từ ải Nam quan vào tới Bến Ván
Nghe theo lời cố vấn của hai văn thần là Trần Văn Kỷ và Ngô Thì Nhậm để tổ chức lại guồng máy hành chính, thuế khóa. Cho lập sổ theo dõi nhân khẩu (hay hộ khẩu). Người dân được phân 4 hạng theo lứa tuổi: 9–17 tuổi là hạng “vị cập cách”; 18–55 tuổi là hạng “tráng”; 55–60 tuổi là hạng “lão”; 60 tuổi trở lên là hạng “lão nhiêu”.
Vào thành Thăng Long, hạ lệnh chiêu an, nếu người Trung Quốc ở đâu ra thú tội đều được cấp cho lương ăn, áo mặc.
Cho rằng vua Thanh thế nào cũng xấu hổ về việc thua trận, nên sai Ngô Thì Nhậm viết thư sang lời lẽ khéo léo nhằm tránh việc binh đao hai nước. Sai sứ giả đem thư sang Trung Quốc, và lại sai đem những quân nhà Thanh đã bắt được, để ở một nơi, cấp cho lương thực, đợi ngày cho về nước.
Xếp đặt mọi việc xong rồi đem quân về Nam, lưu Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ở lại tổng thống các việc quân quốc; còn những việc từ lệnh giao thiệp với nhà Thanh thì ủy thác cho Ngô Thì Nhiệm và Phan Huy Ích.
[Thống đốc nhà Thanh là Phúc Khang An trông thấy triều đình mạnh nên viết thư với nội dung việc lợi hại và bảo làm biểu tạ tội để tiện việc bang giao]
Liền sai người đưa vàng bạc đút lót Phúc Khang An, sai người cháu sang cầu phong. Được vua Thanh phong cho làm An Nam quốc vương và mời sang chầu.
Tháng 1 sai Phạm Công Trị (có bản chép là Nguyễn Quang Thực) đóng giả làm mình cầm đầu đoàn sứ gồm 150 người sang Yên Kinh (Bắc Kinh sau này) triều kiến Càn Long. Phúc Khang Việt biết rõ nhưng bị mua chuộc đứng sau lưng đoàn sứ bộ, ngại gây hấn nên không nói ra. Vua Càn Long đón tiếp trọng thể đoàn sứ bộ An Nam, đãi tiệc và ban thưởng rất nhiều của cải. Nhà Thanh chi phí cho sứ đoàn mỗi ngày hết 4.000 lạng bạc (tổng cộng lên đến 800.000 lạng tính cho tới khi sứ đoàn về). Khi tiếp vua Quang Trung (giả) tại hành cung Nhiệt Hà, vua Càn Long cho dùng lễ “bão kiến, thỉnh an” để tiếp đón thân mật, lễ này chỉ được dùng cho những đại thần có công trạng to lớn.
Ngày 1/8 tại vườn Viên Minh, đoàn sứ bộ được đãi tiệc lớn và xem bắn pháo hoa. Bữa tiệc cho Càn Long gồm 20 món nóng, 20 món lạnh, 4 món súp, 4 món khai vị, 4 loại trái cây tươi, 28 loại trái cây khô và dưa, 29 món điểm tâm, tổng cộng 109 món; các quan khách được bày số món bằng 1/4 so với nhà vua. Vua Quang Trung (đóng giả) được xếp ngồi cạnh vua Càn Long, có thể nói là cực kỳ biệt đãi.
Ngày 20 vua Quang Trung (giả) vào cung từ biệt Càn Long.
Ngày 22 đoàn sứ bộ lên đường về nước bằng thuyền, sau 7 ngày thì tới hồ Động Đình, tới đâu cũng được quan lại địa phương tiếp đón ân cần, dựng thủy đình ở bên sông bày yến tiệc thết đãi.
Ngày 29/11 đoàn sứ bộ về tới ải Nam Quan.
Ngày 20/12 tới Nghệ An.
Năm 1791 (Tân Hợi)
Cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm.
Hòa hoãn với Nhà Thanh chỉ cốt đợi ngày đủ sức mà đánh báo thù, việc trong nước tạm yên, ngày đêm trù tính việc đánh Trung Quốc để giành lấy vùng Lưỡng Quảng. Quan viên đề nghị phải điều tra được dân số để kén lấy lính. Bèn xuống lệnh cho các trấn bắt dân xã làm lại sổ đinh, ai ai cũng phải biên vào sổ, rồi cấp cho mỗi người một cái thẻ bài, khắc bốn chữ Thiên Hạ Đại Tín, chung quanh ghi tên họ quê quán, và phải điểm chỉ làm tin. Người nào cũng phải đeo thẻ ấy gọi là tín bài. Ai không có thẻ là dân lậu, bắt sung vào quân phòng, và bắt tội tổng trưởng, xã trưởng. Nhân có việc ấy, những kẻ lại dịch hiệp với xã trưởng đi lại làm bậy: thường vào làng vây bắt hỏi thẻ, làm cho dân gian nhiễu động, nhiều người phải trốn vào rừng mà ở. Thu phục cả những người vi phạm ở Trung Quốc như: Người tên Tàu ô, làm giặc cướp ở ven biển Trung Quốc, bị quân Nhà Thanh đánh đuổi, chạy sang xin phụ thuộc Việt Nam, được nhận cho làm chức tổng binh, sai sang quấy nhiễu Trung Quốc; lại có người thuộc về đảng Thiên Địa Hội làm giặc ở Tứ Xuyên, cũng được thu dùng cho làm tướng.
Năm 1792 (Nhâm Tý)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung 4/Cảnh Thịnh 1 – Quang Trung/Quang Toản
Ra chiếu chỉ về việc dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm. Chủ trương bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm. Quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và đến đệ tam trường các sĩ tử phải làm thơ phú bằng chữ Nôm. Và còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm
Sai sứ bộ sang Bắc Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống. Giao cho viên tướng tin cậy người Hải Dương là Vũ Văn Dũng với sắc chỉ:
– Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!
Sau khi ổn định tình hình Bắc Hà, việc tiếp theo là tập trung quyết tâm tiêu diệt Nguyễn Ánh. Bèn ra sức trấn an Nguyễn Nhạc và nhân dân trong vùng do Nguyễn Nhạc cai quản để chuẩn bị Nam tiến. Căm tức trận Nguyễn Ánh đánh úp khiến cháy nhiều chiến thuyền của Nguyễn Nhạc nên lên kế hoạch để báo thù. Dự định phát động chiến dịch rất lớn, huy động hơn 20-30 vạn quân thủy bộ, chia làm ba đường:
- Nguyễn Nhạc và quân “Tàu ô” (hải tặc Trung Hoa) cùng theo đường bộ từ Phú Yên vào đánh Gia Định
- Quân bộ từ Phú Xuân đi thẳng qua lãnh thổ Vạn Tượng tới Nam Vang (Chân Lạp), từ đó cùng quân Chân Lạp kéo về Gia Định, bao bọc đường chạy của Nguyễn Ánh không cho sang Xiêm.
- Quân thủy sẽ tiến vào đón lõng tận Hà Tiên đổ bộ lên đất liền để ngăn Nguyễn Ánh chạy ra biển.
Tháng 9 đầu thu, buổi chiều, khi đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh (nghi tai biến ở vùng não bộ, còn gọi là huyết vận hay tai biến mạch máu não). Khi tỉnh dậy, cho triệu trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về triều bàn việc dời đô ra Phượng Hoàng Trung Đô (nay thuộc Nghệ An). Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh tình đã nguy kịch. Thấy sức khoẻ yếu nên căn dặn Trần Quang Diệu và các quần thần:
– Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định là quốc thù, mà Thái Đức thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô để khống chế thiên hạ. Bằng không quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân!
Ngày 16 (29/7) khoảng 23-24h thì qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng dương 40 tuổi, thuỵ hiệu là Vũ hoàng đế.
Sách Đại Nam liệt truyện – Ngụy Tây liệt truyện của Sử quán triều Nguyễn chép: Một hôm, về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm, tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: “Ông cha người sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân Chúa Nguyễn, sao phạm đến lăng tẩm…”. Rồi lấy gậy đánh vào trán Quang Trung, mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự lâu lắm… Từ đó, bệnh chuyển nặng…
5. Hậu sự
Năm 1792 (Nhâm Tý)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung 4/Cảnh Thịnh 1 – Quang Trung/Quang Toản
Tháng 10 táng ở phía nam sông Hương, cung điện Đan Dương, Phú Xuân
Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng.
Đô đốc Vũ Văn Dũng đang đi sứ Nhà Thanh ở Bắc Kinh, liền làm bài thơ viếng:
Bố y phân tích ngũ niên trung/Mai cố thi vi tự bất đồng/Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ/Bất y Đường Tống thuyết anh hùng
Dịch:Năm năm dấy nghiệp tự thân nông/Thời trước thời sau khó sánh cùng/Trời để vua ta thêm chục tuổi/Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.
Thị trung Đại học sĩ là Ngô bộ Tả đồng nghị Nguyễn Viết Trực, Hộ bộ Tả thị lang là Nguyễn Văn Thái, sang nước Thanh báo tang, nói dối là Huệ dặn sau khi chết rồi táng ở Tây Hồ Bắc Thành. Vua Càn Long tặng tên hiệu cho là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ Nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.
Năm 1802 (Nhâm Tuất)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Cảnh Thịnh 10
Nhà Nguyễn – Gia Long 1
Nguyễn Ánh sai đào và san phẳng lăng mộ để trả thù, tán hài cốt thành bột nhồi thuốc súng bắn đi; bỏ xương sọ vào vò cùng bài vị giam vào trong ngục tối nhà Đồ Ngoại (sau này là Võ Khố). Người đời thương tiếc Nhà Tây Sơn gọi là “Ông Vò”.
Năm 1822 (Nhâm Ngọ)
Nhà Nguyễn – Minh Mạng 2
Các vò bị xiềng, niêm phong và giam vào Khám đường, ở phía tây bắc kinh thành Huế, khoảng giữa cửa chính Tây và An Hòa. Hàng tháng có đoàn của triều Nguyễn xuống kiểm tra
Năm 1885 (Ất Dậu)
Nhà Nguyễn – Hàm Nghi 1/Đồng Khánh 1
Đêm 22 rạng sáng 23 kinh thành Huế biến động bởi chiến tranh giữa phe chủ chiến của nhà Nguyễn với người Pháp, vua Hàm Nghi cùng hoàng gia phải rời khỏi phòng thành, quân Pháp tràn vào thành. Lúc đó, có người mang 3 vò chạy trốn. Riêng một vò (hộp sọ vua Quang Trung) được một ông họ Phan, người ở gần Cầu Ngói đã theo hào, lạch, sông đưa về Cầu ngói Thanh Toàn. Hiện nay chưa tìm thấy tung tích h ở đâu.
6. Vinh danh và giải thưởng
a) Tôn vinh
Lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam, trường học được phổ biến đến tận cập xã.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch liệt kê vào danh sách 14 vị Anh hùng dân tộc tiêu biểu của Việt Nam
Dân tộc Việt Nam tôn vinh là người anh hùng áo vải dân tộc, là một trong những vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử nước nhà.
b) Thờ tự
Các tù nhân tại Khám đường tôn kính vò chứa sọ vua gọi là “Ông Vò”, còn những người gác ngục gọi là “chúa ngụy”. Những người sống ở gần Khám đường đều tỏ ra kính cẩn ba Ông Vò, họ thường cúng bái và coi như thần hộ mệnh.
Bảo tàng Quang Trung và đền thờ 3 anh em nhà Tây Sơn tại quê hương thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
Thờ tại chùa Bộc ở Hà Nội.
Phòng tuyến Tam Điệp ở thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
Đền thờ Quang Trung ở thành cổ Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
Quảng trường, tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
Tượng đài Hoàng Đế Quang Trung tại công viên, trước nhà ga tàu hoả ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Miếu nhỏ tại Quận 12, gần Công viên phần mềm Quang Trung, Tp. Hồ Chí Minh.
c) Đường phố
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vinh, Phan Thiết, Hạ Long, Uông Bí, Quảng Yên, Bến Tre, Tam Điệp, Đồng Hới, Ninh Bình…). Ở
Phố Quang Trung tại phủ chúa Trịnh, Tp. Hà Nội.
d) Nghệ thuật
Phim điện ảnh Tây Sơn hào kiệt của hãng phim Lý Huỳnh phối hợp cùng Hãng phim Thanh Niên (3/2009)
7. Tham khảo
a) Internet
b) Ấn phẩm
Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm
Đại Nam chính biên liệt truyện
Đại Nam liệt truyện – Ngụy Tây liệt truyện của Sử quán triều Nguyễn
Đại Nam thực lục
Đại Nam thực lục chính biên
Đại Thanh thực lục
Quang Trung anh hùng dân tộc
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục
La Sơn Phu Tử của Hoàng Xuân Hãn
Les Espagnols dans l’Empire d’Annam của Diego de Jumilla
Lịch sử nội chiến 1771 đến 1802
Minh đô sử
Sách Tây sơn thuật lược (西山述略)
Tây Sơn lược thuật
Tây Sơn thuỷ mạt khảo
Tây Sơn thực lục
Việt Nam sử lược
