1. Thông tin
– Tên huý: Lê Duy Diêu (黎維祧) hay Lê Duy Đào
Hiệu: Cảnh Hưng
Tôn hiệu: Uyên Úy Khâm Cung Nhân Từ Đức Thọ hoàng đế (淵懿欽恭仁慈德壽皇帝)
Thuỵ hiệu: Vĩnh Hoàng đế (永皇帝)
Miếu hiệu: Hiển Tông (黎顯宗)
– Sinh ngày 20/5/1717 (4/Đinh Dậu) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)
Mất ngày 10/8/1786 (17/7/Bính Ngọ) (69 tuổi) tại điện Vạn Thọ, Đông Kinh, Đại Việt (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc:
– Là hoàng đế thứ 26 nhà Lê trong lịch sử Việt Nam.
2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Lê Duy Đường
– Bố là Lê Duy Tường và mẹ là Đào Thị
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với vợ là:
Trinh Thuận hoàng hậu: Trần Thị Ngọc Câu
Chiêu nghi: Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Điều và Nguyễn Thị Diễm.
Cung nhân: Nguyễn Thị Dương, Lê Thị Thanh, Lê Thị Thịnh, Hoàng Thị Thử, Nguyễn Thị Bài, Nguyễn Thị Nghiên, Nguyễn Thị Viên, Trịnh Thị Ngân, Nguyễn Thị Diệu, Nguyễn Thị Chi, Đào Thị Toại, Nguyễn Thị Khanh, Đào Thị Minh, Nguyễn Thị Nghiêu, Nguyễn Thị Phúc, Cao Thị Toản, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Điền và Phan Quý Thị
– Có 53 người con: (30 con trai và 23 con gái)
Con trai: Lê Duy Lực, Lê Duy Vỹ, Lê Duy Trinh, Lê Duy Thạch, Lê Duy Cận, Lê Duy Bảo, Lê Duy Đễ, Lê Duy Trọng, Lê Duy Dược, Lê Duy Trừ, Lê Duy Cư, Lê Duy An, Lê Duy Phùng, Lê Duy Lữ, Lê Duy Quyền, Lê Duy Tràm, Lê Duy Hoán, Lê Duy Lộc, Lê Duy Bút, Lê Duy Lưu, Lê Duy Phúc, Lê Duy Lãn, Lê Duy Tiến, Lê Duy Hội, Lê Duy Hoan, Lê Duy Thăng, Lê Duy Sách, Lê Duy Túc, Lê Duy Vạn và Lê Duy Cơ
Con gái: Lê Ngọc Du, Lê Ngọc Anh, Lê Ngọc Như, Lê Ngọc, Lê Ngọc Quỳnh, Lê Ngọc Tuyên, Lê Ngọc Uyển, Lê Ngọc Gia, Lê Ngọc Viện, Lê Ngọc Dao, Lê Ngọc, Lê Ngọc Nhiên, Lê Ngọc, Lê Ngọc Viên, Lê Ngọc Trăn, Lê Ngọc Loan, Lê Ngọc Châu, Lê Ngọc Doanh, Lê Ngọc Tuyên, Lê Ngọc, Lê Ngọc Hân, Lê Ngọc Huyên và Lê Ngọc Bình
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Lê Duy Kỳ
– Cháu ngoại: Nguyễn Quang Đức và Nguyễn Thị Bảo Ngọc
3. Con người và tính cách
Các nhà sử học đời sau đánh giá: Lê Hiển Tông là một vị vua nhu nhược, nhưng may mắn. Là vị vua Lê điển hình thời trung hưng, nhẫn nhục chịu đựng, “khoanh tay rủ áo” để được yên vị. Tấm gương bị phế truất và bị sát hại của các vua trước khiến Hiển Tông thu mình, không còn ý định phản kháng.
Theo vi.wikipedia.org: Sự nhàn rỗi lâu năm khiến nhà vua tuổi cao, sức yếu không còn động lực trở lại với chính sự. Bản thân Hiển Tông cũng coi ngai vàng là một gánh nặng.
Cương mục chép: Nhà vua là người nhân từ, trầm tĩnh. Lúc về già, gặp Trịnh Sâm áp bức, cũng chỉ ngậm miệng mà nhịn. Đến nay Tây Sơn tôn phò, nhà vua ngoài mặt tuy mừng mà trong bụng vẫn lấy làm lo.
Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục miêu tả: ông là người mắt phượng, râu rồng
Sách Hoàng Lê nhất thống chí viết: Nhà vua giỏi về các kỹ nghệ lặt vặt. Bao nhiêu cung điệu, nhạc phủ, nhà vua đều chế ra bài mới, âm thanh cực kỳ du dương, trong sáng
4. Cuộc đời và sự nghiệp
Con cả trong gia đình ? anh chị em (Lê Duy Diêu)
Năm 1717 (Đinh Dậu)
Nam triều nhà Lê – Vĩnh Thịnh 11 – Dụ Tông 11
Đàng ngoài chúa Trịnh – An Đô vương 8
Đàng trong chúa Nguyễn – Minh Vương Quốc chúa 26
Năm 1735 (Ất Mão) khi 18 tuổi
Nam triều nhà Lê – Long Đức 3/Vĩnh Hựu 1 – Thuần Tông 3/Ý Tông 1
Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương 6
Đàng trong chúa Nguyễn – Ninh vương 10
Tháng 4 bố qua đời
[Chúa Trịnh Giang ăn chơi, không lo việc triều chính; người dân nhiều nơi nổi dậy khởi nghĩa, dùng khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh”; phong trào khởi nghĩa nông dân có các chú là Lê Duy Mật, Lê Duy Quy và ông chú là Lê Duy Chúc]
Bị Trịnh Giang bắt giam ở nhà viên quan nội thị Hồng Quận công
Năm 1740 (Canh Thân)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 1 – Hiển Tông 1
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 1
Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương 2
Tháng 1
[Trịnh Doanh lên ngôi chúa]
Được người đưa lánh đến nhà cậu của Trịnh Doanh là Bính Quận công Vũ Tất Thận.
Một ngày, có Võ Thế Giai tới, nói lý do đến xin chữ để xem tiên tri, rồi đưa cuốn từ vựng, mở ra tìm được chữ Cảnh. Liền viết lại.
Sách Nam Thiên trân dị tập (Những truyện quý lạ của nước Nam) có một chuyện nhan đề Cổ quái bốc sư truyện (Truyện ông thầy cổ quái), kể rằng: Kinh đô xuất hiện ông thầy “Cổ quái tiên sinh” tự xưng là am tường mọi thuật của nghề xem tướng, nhưng thuật đoán chữ thì tinh thông nhất. Võ Thế Giai đến gặp và nhờ ông thầy đoán chữ để tìm minh chủ, từ đó mà trở thành gia khách của Vũ Tất Thận, lập nhiều chiến công. Vì phục tài ông thầy kia nên Tất Thận mới bảo Võ Thế Giai nhờ ông ta xem ai xứng đáng ở ngôi Thiên tử đồng thời cho biết mình đang giam giữ hoàng tử Lê Duy Diêu, nay để hoàng tử viết một chữ để xem có thể đảm đương được ngôi báu không. Thế Giai làm theo và về báo lại lời ông thầy:
– Mặt trời chiếu xuống kinh sư, chẳng phải ngôi Cửu ngũ còn là gì? Song chữ “Nhật” nhỏ mà chữ “Kinh” lớn, tuy được hưởng nước lâu, song quyền bính không khỏi chuyển vào tay kẻ dưới.
Vũ Tất Thận cùng Võ Thế Giai, Nguyễn Thế Trương, Hoàng Ngũ Phúc mật bàn với Quốc sư Thượng thư quận công Nguyễn Quý Cảnh về việc cứu hoàng tử Lê Duy Diêu ra khỏi ngục để lập làm vua. Cảnh với Thận bàn rằng: Nên đem gạo thơm vào trong nội thất, nấu lấy 3 nồi đồng cháo, cho người trèo lên mái nhà nơi Hoàng tử đang bị giam, rải cháo lên mái ngói thành hình rồng uốn lượn. Đến sáng ra, Trung công ̣vào trong phủ phục tội Chúa triệu Quý Cảnh vào hỏi can do và thân hành đến tận nơi để phân biệt thực hư, Quý Cảnh thưa:
– Nước rãi rắn thì tanh. Còn nước rãi rồng thì thơm. Chỉ sợ nếu Trung công để xảy ra việc bất thường, tội ắt phải chém.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục lại viết: Trước đây, Tất Thận chưa biết việc này. Một đêm, nằm mộng thấy một người “kẻ cả” đến nhà, cờ quạt âm nhạc, hệt như nghi trượng thái bình thiên tử. Sáng hôm sau, thấy Duy Diêu đến. Tất Thận bèn đem việc này nói với Doanh. Doanh muốn nhờ vào phúc đức Duy Diêu, mới cùng các đại thần bàn định tôn lập làm vua và xin nhà vua nhường ngôi cho Duy Diêu”.
Chúa Trịnh Doanh cùng các quan đến, hỏi Nguyễn Quý Cảnh:
– Đây là ai vậy?
Cảnh vội bước lên lạy thưa:
– Quốc cữu thực không có tội. Đó là điềm Hoàng thái tử. Chỗ có rãi rồng chính là nơi giam giữ Hoàng tử mới có điềm rồng như vậy.
Trịnh Doanh vội cung kính đến lạy, rồi lập tức hạ lệnh tháo xích, mang sập đến mời ngồi. Lại cùng Tất Thận, Quý Cảnh dâng biểu lên vua Lê Ý Tông, đại ý nói: Hoàng thượng hiện nay chỉ là chi thứ nối nghiệp. Nay Hoàng tử tuổi và đức đều cao. Bệ hạ nên nhàn hưởng tuổi trời, phó thác việc nước lại cho người khác để thỏa lòng mong mỏi của bàn dân thiên hạ.
Tháng 5
Ngày 21 lên ngôi vua. Tờ chiếu truyền ngôi có câu rằng: Nghĩa chốn biên cương còn có đứa ngu xuẩn, ngang ngạnh, muốn cho kinh kỳ được yên mà bờ cõi được yên lặng, xét lẽ chính đáng nên duy tôn dòng đích, cốt để trọng tông thống mà thống nhất nhân tâm”. Đặt niên hiệu là Cảnh Hưng, tôn Lê Ý Tông làm Thái thượng hoàng
Theo Hán tự, chữ “Cảnh” được ghép gồm 2 chữ: Chữ “Nhật” (mặt trời) ở phía trên, phía dưới là chữ “Kinh” (kinh sư, kinh đô). Do đó ông thầy mới đoán là “Mặt trời chiếu xuống kinh sư”.
Chữ Hưng có cái điềm 46 năm. Song đầu chữ Hưng có cái dáng ba chữ Nhật, mặt trời đều bị xâm thực, ở giữa hơi cao, hai bên hơi thấp, hưởng lộc chỉ có 3 đời”.
Năm 1743 (Quý Hợi)
Mở khoa thi võ học với hai cấp Sơ cử và Bác cử và bổ sung thêm một hình thức là Đề cử. Theo đó những năm không có khoa thi võ thì các quan võ từ cấp tam phẩm trở lên đều phải đề cử một người có tài, trí, mưu mô, khỏe mạnh, giỏi võ và quả cảm.
Năm 1750 (Canh Ngọ)
Quy định dự thi Hương các sĩ tử phải nộp lệ phí thi mới được tham dự, khoản đó gọi là tiền thông kinh.
Năm 1751 (Tân Mùi)
Tháng 6 được Trịnh Doanh cho phép tiến hành cải cách một số hình thức trong quan chế của triều đình vua Lê, như việc bổ nhiệm các quan đứng đầu lục bộ, lục khoa, các quan khanh… Tuy nhiên, tham tụng, bồi tụng, tức là gia thần của phủ chúa, mới là những người nắm quyền thực sự, còn Thượng thư, Thị lang các bộ chỉ là vị hão của triều đình.
Năm 1754 (Giáp Tuất)
Cuối năm, bị Trịnh Doanh ép phong cho con trưởng của mình là Trịnh Sâm làm Thế tử thừa kế ngôi chúa.
Tháng 6 Trịnh Doanh mời ra sông Nhị duyệt binh [Đây là việc chưa từng có tiền lệ trước đó, bởi các chúa Trịnh luôn tìm cách ngăn cản tối đa việc vua Lê tiếp xúc trực tiếp với quân đội]
Năm 1759 (Kỷ Mão)
Ngày 10/8 chú là Lê Duy Thạn (Lê Ý Tông) qua đời. Bầy tôi bàn việc cử hành tang lễ, đến xin để tang ba năm, bèn nói:
– Ta nguyên là con trưởng của tiên đế (Thuần Tông), quan hệ đến dòng dõi. Trước đây Hoàng thúc (Ý Tông) nối ngôi, nhưng vì lòng người không yên, mới trả ngôi lại cho ta. Chính ra ta nối ngôi của tiên đế chứ không phải của hoàng thúc. Xét trong điển lễ, không nên nhận hai nguồn gốc. Cho nên chỉ theo lễ chế phục tang 1 năm, còn việc chủ tế thì giao cho người con cả (của Hoàng thúc) ở điện Kiền Thọ chủ tế. Thế mới là đúng lẽ.
Ngày 10/9 mẹ là Thái hậu Nguyễn thị cũng mất ở điện Kiền Thọ, dâng tôn thụy là Hiển Từ.
Nă 1761 (Tân Tỵ)
Tháng 11 được sứ thần nhà Thanh là Hàn lâm thị độc Đức Bảo và Đại lý thiếu khanh Cố Nhữ Tu sang phong làm An Nam quốc vương.
Năm 1764 (Giáp Thân)
Tháng (Giêng) lập con trưởng là Lê Duy Vỹ làm Thái tử.
Năm 1769 (Kỷ Sửu)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 29 – Hiển Tông 29
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 2
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 4
Tháng (3) Trịnh Sâm ép phế truất thái tử Duy Vỹ và giam vào ngục vì tội Thái tử tư thông với cung tần của Trịnh Doanh.
Thái tử ngầm báo rằng bị Trịnh Sâm vu tội, bèn đi cầu đảo, khấn vái cho yên lành.
Đang ở cung vua thì thấy Thái tử chạy sang, theo sau là tướng Trịnh là Phạm Duy Đĩnh vào nội điện đòi giao Thái tử. Vì thương con nên ôm mãi lấy Thái tử, không nỡ ly biệt. Duy Đĩnh thì quỳ mãi ở dưới sân. Thái tử biết thế không thoát khỏi, đành phải bước ra. [Thái tử bị Trịnh Sâm phế làm thứ nhân, giam vào ngục. Các cháu là Duy Khiêm, Duy Trù và Duy Chi cũng bị bắt giam]
Tháng 8 Trịnh Sâm lập con thứ tư là Lê Duy Cận làm Thái tử
Năm 1771 (Tân Mão)
Tháng 12 bất lực trong khi Trịnh Sâm giết con trai là Duy Vỹ.
Năm 1777 (Đinh Dậu)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 37 – Hiển Tông 37
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 10
Đàng trong chúa Nguyễn – Tân Chính vương 1
Ban hành bộ Quốc triều khám tụng điều lệ (Quốc triều điều luật), gồm những quy định về kiện tụng, quy định thẩm quyền các cấp xét xử, thời hạn xét xử, trình tự bắt người, điều tra, khám xét…
Năm 1780 (Canh Tý)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 40 – Hiển Tông 40
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 14
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 2
Thi võ với quy định chặt chẽ, kỹ càng hơn trước. Phép thi được chia làm 4 kỳ: kỳ 1 thi giương cung, múa đao; kỳ 2 thi bắn cung, bắn súng; kỳ 3 thi phi ngựa bắn cung, đấu siêu đao, lăn khiêng, múa gươm, đâm giáo…; kỳ 4 thi văn sách. Điều đặc biệt là lệ thi chú ý đến xét duyệt khí sắc, đó là tướng mạo, tiếng nói, sức chịu đựng sao cho thể hiện được sự hùng dũng, can trường.
Năm 1781 (Tân Sửu)
Mở khoa thi, lấy hai người đỗ Tiến sĩ là Nguyễn Cầu và Nguyễn Tân.
Năm 1782 (Nhâm Thìn)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 42 – Hiển Tông 42
Đàng ngoài chúa Trịnh – Điện Đô vương 1/Đoan Nam vương 1
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 4
[Trịnh Sâm chết, con trai mới 6 tuổi là Trịnh Cán lên thay. Quân kiêu binh phế truất Trịnh Cán và lập Trịnh Tông làm chúa]
Quân kiêu binh lén đến xin ý kiến về việc tôn phù nhà Lê lấy lại quyền bính. Những người xung quanh cũng khuyên nên nghe theo mưu ấy. Nhưng nghĩ nhiều hướng, bèn nói:
– Ta vì thành thật nghe theo trời nên mới được như thế này. Những chuyện do ở mưu người xếp đặt, ta quyết không làm. Nếu kẻ nào còn dám nói đến chuyện đó, trẫm sẽ lôi sang cho chúa, để theo phép mà làm tội.
Năm 1783 (Quý Mão)
Tháng (Giêng) có loạn kiêu binh, quân lính giải thoát cho các cháu, truất Duy Cận làm Sùng Nhượng công và lập cháu trưởng là Duy Khiêm làm người kế vị.
Năm 1784 (Giáp Thìn)
[Quân sĩ có người cậy công rước Hoàng tự tôn về, xin ban phong cho cha mẹ, họ đem nhau vào sân điện tâu bày để xin phong]
Sai triệu vào nội điện, tuyên bố chỉ dụ yên ủi.
Năm 1785 (Ất Tỵ)
Mở khoa thi
Năm 1786 (Bính Ngọ)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng 46/Chiêu Thống 1
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 4
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 8
[Nguyễn Huệ diệt Trịnh]
Nói với các cung nữ:
– Trời sai nhà chúa phò ta. Chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui. Mất chúa, tức là cái lo lại về ta, ta còn vui gì?
Tháng (6) đang lâm bệnh thì được tin giặc kéo đến uy hiếp, các hoàng tử vội vực dậy toan lánh đi chỗ khác. Chợt có viên tỳ tướng nhà Tây Sơn đệ dâng bản tâu của Nguyễn Huệ, trước hết bày tỏ lễ ý xin thăm hỏi sức khỏe nhà vua, sau nữa xin định ngày sẽ vào triều bái yết. Khi đó mới yên tâm. Bèn triệu kiến Nguyễn Huệ ở điện Vạn Thọ, sai đặt một giường khác ở bên cạnh giường ngự để Nguyễn Huệ ngồi. Nguyễn Huệ rụt rè không dám ngồi, đành ép mãi, Nguyễn Huệ mới ngồi ghé vào cạnh chiếu, rồi tâu bày về lý do lật đổ họ Trịnh và tôn phù nhà Lê. Bèn phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên Soái Uy Quốc Công
Cựu thần Bắc Hà theo hàng Sơn Tây là Nguyễn Hữu Chỉnh mai mối nên gả con gái là công chúa Lê Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Lại hạ lệnh truyên triệu bọn Phan Lê Phiên, Uông Sĩ Điển, Trần Công Thước và bầy tôi hơn mười người về triều. Nguyễn Huệ lại xin định ngày làm lễ dâng sổ sách binh dân.
Cố gượng dậy, ra ngự điện Kính Thiên nhận lễ, rồi ban hành chiếu thư về việc nhất thống để bá cáo cho trong kinh ngoài trấn biết.
Cho triệu cháu kế vị là Duy Khiêm đến bảo thầm:
– Ta chỉ sớm tối sẽ trút bỏ gánh nặng, bây giờ lo lắng việc nước là ở mình cháu, cháu phải nghĩ lấy.
Thái tôn vừa lạy vừa khóc xin nhận mệnh lệnh. Lại nói tiếp:
– Binh lính xứ khác còn đóng ở đây, về việc truyền nối ngôi vua là việc trọng đại, cần phải thương lượng bàn bạc với nguyên soái (Nguyễn Huệ), chớ nên làm tắt
Ngày 10/8 (17/7) từ trần tại điện Vạn Thọ.
5. Vinh danh
An táng tại Bàn Thạch lăng
Ở ngôi vua lâu nhất và sống thọ nhất của nhà Hậu Lê.
Niên hiệu được sử dụng lâu nhất (niên hiệu còn được sử dung thời gian dài sau khi vua mất)
Vào thời đó, các “tập đoàn” phong kiến tranh giành lẫn nhau. Tại vùng kiểm soát của lực lượng chúa Nguyễn niên hiệu Cảnh Hưng vẫn được sử dụng trong các văn bản quản lý, chỉ đến khi Nguyễn Phúc Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn thì niên hiệu này mới không được dùng nữa.
Sách Hoàng Lê nhất thống chí cho biết: Tháng 5, mùa hè năm ấy (tức năm 1802) chúa Nguyễn hạ chiếu đổi niên hiệu Cảnh Hưng, tức là từ năm Bính Ngọ (1786) trở về sau chúa Nguyễn vẫn dùng niên hiệu cũ của nhà Lê. Năm Nhâm Tuất (1802) này, lúc đầu vẫn gọi là năm Cảnh Hưng, đến bây giờ mới đổi ra niên hiệu mới. Như vậy niên hiệu Cảnh Hưng được sử dụng tổng cộng trong 62 năm.
Phát hành nhiều loại tiền nhất trong số các vua chúa, có 16 loại tiền: Cảnh Hưng Thông Bảo, Cảnh Hưng Trung Bảo, Cảnh Hưng Chí Bảo, Cảnh Hưng Vĩnh Bảo, Cảnh Hưng Thái Bảo, Cảnh Hưng Cự Bảo, Cảnh Hưng Trọng Bảo, Cảnh Hưng Tuyền Bảo, Cảnh Hưng Thuận Bảo, Cảnh Hưng Chính Bảo, Cảnh Hưng Nội Bảo, Cảnh Hưng Dụng Bảo, Cảnh Hưng Lai Bảo, Cảnh Hưng Thận Bảo, Cảnh Hưng Ðại Bảo và Cảnh Hưng Ðại Tiền.
Mở nhiều khoa thi nhất trong sử Việt (cho mở 16 khoa thi, lấy đỗ 131 tiến sĩ), lấy bảng Tam khôi ít nhất
Ban hành bộ luật tố tụng đầu tiên của Việt Nam
6. Tham khảo
a) Internet
vi.wikipedia.org: Lê Hiển Tông
nguonluc.com.vn: Chuyện lên ngôi kỳ lạ bậc nhất lịch sử của vua Lê Hiển Tông
redsvn.net: 10 điều thú vị và bất ngờ về vua Lê Hiển Tông
danviet.vn: Giai thoại kỳ thú về niên hiệu Cảnh Hưng của vua Hậu Lê
b) Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục
Hoàng Lê nhất thống chí
