1. Thông tin
– Tên huý: Ngô Phúc Túc
Tự: Ngô Phúc Phương hay Trịnh Trinh
Tước hiệu: Hoành (Hoàng) Quận công
Tước vị: Đại Tư đồ
Thuỵ hiệu: Quang Diệu
– Sinh năm 1712 (Nhâm Thìn) tại Đại Việt (nay là thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam)
Có bản ghi là sinh năm 1710
Mất năm 1804 (Giáp Tý) (92 tuổi) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia thời nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.
2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Ngô Phúc Đẩu
– Bố là Ngô Phúc Chánh và mẹ là Mai Thị Vượng
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với vợ là Vũ Thị Liên, Trương Thị và Trịnh Thị Ngọc Như
– Có 6 người con: (6 con trai và 1 con gái)
Con trai: Ngô Phúc Trọng, Ngô Phúc Giám, Ngô Phúc Ngạn, Thuần Trung hầu, Ngô Phúc Diễn và 1 con trai.
Con gái: 1 con gái
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Ngô Phúc Bình, Ngô Phúc Dương, Ngô Phúc Ba, Ngô Phúc Lộc, Ngô Phúc Long, cụ Trung, cụ Trùm, Ngô Phúc Tấn, cụ Tuần, cụ Dơi, Ngô Phái, Ngô Đạo, Ngô Dương, Ngô Uông, Ngô Thị Lê, Ngô Thị Trần và Ngô Thị Ngoan.
3. Con người và tính cách
ngotoc.vn viết: Ông tài kiêm văn võ
traonha.wordpress.com lại ghi: Sinh ra có dị tướng, miệng rộng đút lọt nắm tay, có 36 cái răng, tài kiêm văn võ
4. Cuộc đời và sự nghiệp
Con cả trong gia đình 2 anh em (Ngô Phúc Túc và Ngô Phúc Bích)
Năm 1712 (Nhâm Thìn)
Nam triều nhà Lê – Vĩnh Thịnh – Dụ Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – An Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Minh Vương Quốc chúa
Năm 1718 (Mậu Tuất) khi 6 tuổi
Nam triều nhà Lê – Vĩnh Thịnh – Dụ Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – An Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Minh Vương Quốc chúa
Ông nội mất
Năm 1732 (Nhâm Tý) khi 20 tuổi
Nam triều nhà Lê – Long Đức – Thuần Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Ninh vương
Ra quản quân
Cưới Vũ Thị Liên
Năm 1741 (Tân Dậu)
Nam triều nhà Lê – Long Đức – Thuần Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Uy Nam vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Ninh vương
Vợ là Vũ Thị Liên từ trần
Bố mất
Cưới Trương Thị, sinh được con trai và con gái
Được bà Phan Thị (Chiêu nghi chúa Trịnh Sâm) gả con gái là Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Như, cho làm Phò mã. Lại xin Chúa cho cung Ninh Sơn làm của hồi môn.
Chuyển nhà về cung Ninh Sơn ở tại núi Ninh, huyện Chương Mỹ (nay thuộc huyện Chương Mỹ, Tp. Hà Nội). Đưa Quận chúa làm chính thất, Trương Thị ra ở chùa Thấp (cùng trên núi Ninh).
Thấy đất đai còn hoang vu nhiều, bèn chiêu dân lập ấp thành hai xã Ninh Sơn và Chúc Lý.
Năm 1744 (Giáp Tý)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương
Đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ).
Dẹp các cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Kinh Bắc, Ngân Già ở Sơn Nam.
Dẹp giặc cướp ở Chương Đức, Chương Mỹ, Yên Thường (Yên Trường), Sơn Tây…
Năm 1768 (Mậu Tý)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương
Vợ là Trịnh Thị Ngọc Như từ trần
Thái phi (Chính thất Trịnh Cương) triệu vào bảo:
– Nay Quận chúa đã từ trần, khanh thì phụng sự tại kinh, nhà cửa ở Ninh Sơn bỏ không, ta theo nguyên giá hoàn lại khanh nghĩ sao?
Bèn rập đầu nói:
– Thần đội ơn Thánh mẫu, xin đem nộp lại
Chúa triệu vào khen lòng trung thành và hứa sẽ cho con trai ra Quản quân. Liền rập đầu nói:
– Thần đội ơn Thái phi, con trai thần còn bé .Trộm nghĩ Quận chúa chết sớm, Trương Yên cô đơn, thần xin nhường
Năm 1781 (Tân Sửu)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức
Được Trịnh Tông trọng dụng, rất tin dùng cho làm quyền Phủ sự trong phủ chúa
Giữ chức Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự, sau được phong Đại Tư đồ Hoành Quận công.
[Trịnh Tông liên lạc với một số đại thần trong triều, ngoài trấn như Nguyễn Lễ Trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Khắc Tuân Trấn thủ Kinh Bắc,… bàn mưu khi Trịnh Sâm chết thì kéo quân về phế bỏ Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm Chúa]
Việc bại lộ bị khép tội liên quan, giáng hai cấp xuống Quản hậu trạch trụ đội.
Được trọng dung, giữ chức Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc quyền phủ sự, quản Thủ hiệu Nhất đẳng đội
Năm 1783 (Quý Mão)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức
Nhận thêm chức Nội điện mật sát kiêm chức Phụ dực nội điện.
Thường xuyên khuyên Chúa kiềm chế Kiêu binh. Đến khi Kiêu binh biết chuyện, kéo đến phá nhà, bèn tìm lời lẽ thuyết phục khiến Kiêu binh giải tán tạm yên.
Năm 1784 (Giáp Thìn)
Kiêu binh kéo nhau phá nhà Thượng thư bộ Lại Nguyễn Khản và nhà Điền Nhạc hầu. Khi trở về có người trong đám Kiêu binh hô lớn:
– Đại Tư đồ là bố vợ Quốc cậu, của cải của Quốc cậu gửi cả ở đây
Mọi người hưởng ứng hè nhau xông vào phá nhà.
Đang ở trong Phủ Chúa, được tin, bèn hỏi người Biện trưởng:
– Quân Tam phủ cũng phò Chúa, tôi cũng phò Chúa, không có hiềm khích gì, sao lại có sự việc hôm nay?
Biện trưởng nói:
– Chúng tôi không có ý định này, không ngăn đoán được bộ ngũ, chúng tôi xin nhận lỗi và sẽ xin bồi thường thoả đáng.
Liền đáp lại: Thành sự bất thuyết, ký vãng bất cữu
.
Được cử làm Thất cơ Chiêu thảo sứ đi Trấn thủ Sơn Tây đánh bắt được đầu sỏ Quận Quý thu phục Trấn thành.
Năm 1785 (Ất Tỵ)
Sang làmTrấn thủ trấn Hải Dương
Cuối năm, về làm Quyền phủ sự trong Phủ Chúa.
Năm 1786 (Bính Ngọ)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông/Chiêu Thống
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức
[Lê Chiêu Thống lên ngôi
Quân Tây Sơn ra Bắc Hà.
Trịnh Khải thua chạy]
Không theo được Trịnh Khải, bèn trở về Ninh Sơn
Cùng 5 con trai tìm được Trịnh Bồng đang ẩn náu trong một ngôi chùa ở trấn Sơn Tây. Bèn liên lạc với Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây, Đinh Tích Nhưỡng ở Hải Dương mưu đồ khôi phục Thăng Long.
Chia người đi vận động các huyện Yên Sơn, Mỹ Lương, Chương Đức tổ chức nghĩa quân, bỏ tiền của nhà ra cung ứng quân nhu, được hơn 5000 người, giao ước với Sơn Tây, Hải Dương chờ ngày khởi sự.
Tháng 8 đưa Trịnh Bồng về Thăng Long, cùng các cựu thần lập làm Án Đô Vương. Đứng ra thu xếp cung phủ, cho con cả quản Tả bộ hiệu, con thứ 2 quản Trung trạch đội, con thứ 3 quản Khuông ttrung đội, 2 con trai út đều quản mỗi người một đội.
Thấy Dương Trọng Tế ủng hộ Trịnh Lệ từ Kinh Bắc về cũng định lập làm Chúa, hai bên xô xát vài trận, Dương Trọng Tế chạy sang với Trịnh Bồng, Trịnh Lệ rút lui.
Tháng 10 nhận nhiệm vụ tổ chức bố phòng phía nam
Tháng 11 nhận thêm nhiệm vụ chỉ huy cơ Vệ binh phủ Ứng Thiên.
Hai con là Ngạn Trung hầu và Thuần Trung hầu đánh với Nguyễn Hữu Chỉnh bị tử trận.
Tình thế không ổn bèn lui về ở ẩn, khi thì ở núi Ninh Sơn (Chương Mỹ), lúc thì ở Thụy Chương (Thăng Long).
Năm 1788 (Mậu Thân)
Lê Chiêu Thống triệu ra giúp, sau khi dẫn quân Thanh vào. Bèn viện cớ tuổi già từ chối, cho con trưởng ra phò tá.
Tổng trấn Bắc Thành nhà Tây Sơn Ngô Văn Sở nhận thuộc dòng họ Ngô Trảo Nha, xin đối chiếu phả, liền nói thác rằng phả đã bị thất lạc trong cơn binh hỏa và nói với người nhà rằng “ta với người ấy là kẻ thù không đội trời chung”.
Năm 1804 (Giáp Tý)
Nhà Nguyễn – Gia Long
Ngày 18/10 từ trần ở vườn cũ Ninh Sơn.
5. Vinh danh
Mộ táng tại vườn cũ Ninh Sơn
6. Tham khảo
a) Internet
ngotoc.vn: Ngô Phúc Túc
traonha.wordpress.com: Hoành Quận công Ngô Phúc Phương (1710 – 1804)
b) Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)
Họ Ngô Việt Nam-Lược sử-Sự kiện-Nhân vật-Hệ phả của Ngô Đức Thắng (2000 Canh Thìn, Hà Nội)
