1. Thông tin
– Tên gọi: Ngô Văn Sở (吳文楚)
Tên tự: Ngô Văn Tàng
Tên Ngô Văn Tàng trong phả; tên Ngô Hồng Chấn khi ký giấy tờ bang giao
Tên khác: Đặng Sơn Điêu
Hiệu: Hồng Chấn
Tước hiệu: Ích Quốc công, Đại Tư mã Chấn Quận công
Tước vị: Đại Đổng lý
– Chưa rõ năm sinh tại làng Bình Thạnh, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn, Đại Việt (nay là phường Nhơn Bình, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Việt Nam)
Mất năm 1795 (Ất Mão) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia thời Lê trung hưng, nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Ngô Mãnh
– Bố là Ngô Văn Diễn và mẹ là Nguyễn Thị Mỹ
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với 6 vợ là Nguyễn Thị Quý, Đặng Thị Vậy, Trương Thị Trà, Trần Thị Ngoạn, Lê Thị Yến và Huỳnh Thị Lan
– Có 2 người con trai: Ngô Văn Đắc và Ngô Văn Nhật.
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Ngô Văn Chương và Ngô Văn Kỷ
3. Con người và tính cách
Sách Tây Sơn Lương tướng ngoại truyện của Danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) có đoạn chép: Ngô Văn Sở làm quan không cầu danh lợi, tiếng tăm; lúc nào cũng muốn tránh quyền thế. Thường ngày, ông yêu kính quân tử mà vẫn giữ lòng thương xót tiểu nhân. Ông cùng với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân đều là danh tướng, được người đương thời gọi là Tứ kiệt.
4. Cuộc đời và sự nghiệp
Con cả trong gia đình 4 anh em (Ngô Văn Sở, Ngô Văn Trị, Ngô Văn Ngữ và Ngô Văn Dần)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương
Ông nội đổi họ tên cho là Đặng Sơn Điêu, cùng đi vào miền nam. Trên đường đi, ông nội lâm bệnh, nên xin nương nhờ nơi vườn nhà Bùi công ở thôn Xuân Hòa. Được Bùi công nuôi dưỡng tử tế.
Một hôm, nửa đêm, nhà Bùi công bị cướp, ông nội ra tay cứu trợ, đánh tan bọn cướp. Bùi công ân cần thăm hỏi nên ông nội đem tất cả sự thật ra giãi bày. Bùi công đồng cảm, sẵn tiện cho con gái là Bùi Thị Xuân làm bạn cùng học võ với ông nội.
Sau ba năm ẩn náu tại Bùi gia trang, ông nội bị bạo bệnh qua đời. Buồn bã nên xin giã biệt Bùi công đi xuống hạt Quy Nhơn và định cư tại Bình Thạnh, Tuy Viễn (Tuy Phước).
Năm 1746 (Bính Dần)
Sinh con trai cả
Học trò theo khá đông.nhưng xuất sắc nhất chỉ có người con cả và Phan Huy Ích.
Một lần, khuyến khích học trò, bảo hai người hãy cố chiếm lấy cho được vị trí trong cuộc tranh đua khoa giáp. Lúc đó có một người học trò khác tên là Đặng Trần Thường cũng có mặt, nhưng không nhắc đến.
Năm 1771 (Tân Mão)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông 31
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 4
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 6
[Ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cùng khởi binh]
Đến đầu quân ngay từ buổi đầu.
Năm 1773 (Quý Tỵ)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông 33
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 6
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 8
Được cử làm Chinh Nam Đại tướng quân cùng Lê Văn Lộc, Lê Văn Hưng vào đánh chiếm 3 phủ Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận; được hai Vua Thủy, Hỏa yểm hộ, điều binh thẳng tiến vào nam, tới đâu cũng được hoan nghênh, lấy ba thành dễ dàng như trở bàn tay. Tướng nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Hiền bị giết, và Nguyễn Khoa Kiên bị bắt sống. Đại thắng, bèn kéo binh về.
Năm 1775 (Ất Mùi)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông 35
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 8
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 10
Theo Nguyễn Huệ và rồi cùng đánh tan hơn hai vạn quân Nguyễn do tướng Nguyễn Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên. Kể từ lúc ấy, trở thành một trong những tướng lĩnh cao cấp của Bộ chỉ huy quân Tây Sơn.
Năm 1778 (Mậu Tuất)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông 35
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 10
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 1
[Nguyễn Nhạc xưng đế]
Giữ chức Đốc đồng Lạng Sơn
Được phong chức Đại Tư mã.
Làm tham tán quân vụ cùng Nguyễn Huệ ra đánh Thuận Hóa.
Năm 1786 (Bính Ngọ)
Nam triều nhà Lê – Cảnh Hưng – Hiển Tông 46/Chiêu Thống 1
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 4
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 8
Theo Nguyễn Huệ đi Thuận Hoá, vượt sông Gianh đánh ra Bắc Hà
Đánh diệt Ngô Lượng Lang trên sông Hồng
Năm 1787 (Đinh Mùi)
Nam triều nhà Lê – Chiêu Thống 2
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 9
Cùng Tiết chế Vũ Văn Nhậm ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, đánh chiếm Thăng Long.
Tháng 4 mật tấu cùng Nguyễn Huệ việc Vũ Văn Nhậm chuyên quyền. Cùng Nguyễn Huệ diệt Vũ Văn Nhậm xong, được phong Đại tư mã giao trọng trách trông coi 11 trấn Bắc Hà, nắm giữ chính quyền, thống lĩnh quân đội. Đô đốc Võ Văn Dũng, Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Hộ bộ Trần Thuận Ngôn, Học sĩ Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích đều theo giữ Thăng Long. Nguyễn Huệ nói trước khi về lại Phú Xuân trong buổi trao quyền:
– Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngôn là lòng dạ của ta. Nhậm là bề tôi mới của ta. Nay ta lấy cái việc quân vụ và quốc chính của 11 trấn Bắc Hà ủy thác cho. Ta thuận cho theo tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa nhau.
Năm 1788 (Mậu Thân)
Nam triều nhà Lê – Chiêu Thống 3
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 10/Quang Trung 1
Tháng 11 giữ chức Tham tán quân vụ.
[29 vạn quân Thanh do Tôn Sỹ Nghị thống lãnh tràn sang xâm lược dưới chiêu bài giúp Lê Chiêu Thống]
Bèn làm kế hoãn binh sai người đến dinh họ Tôn cầu hòa. Lời đề nghị bị bác khước.
Giữ chức Tổng trấn Bắc Thành, được Ngô Thì Nhậm bày mưu kế chỉ huy Quân Tây Sơn, cho gọi binh các trấn Kinh Bắc, Thái Nguyên, Hải Dương, Sơn Tây về hội tại Bắc Thành trấn Sơn Nam.
Tìm gặp Ngô Phúc Túc xin đối chiếu phả nhận dòng họ, nhưng bị từ chối bởi phả đã bị thất lạc trong cơn binh hỏa.
Cho rút quân về đóng ở núi Tam Điệp – Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ, đồng thời cho Nguyễn Văn Tuyết về Phú Xuân cáo cấp.
Ngày 22/12 (25/11) Nguyễn Huệ lên làm lễ đăng quang, niên hiệu là Quang Trung.
Năm 1789 (Kỷ Dậu)
Nam triều nhà Lê – Chiêu Thống 4
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung 2
Ngày 15/1 (20/12) biết đại quân Quang Trung đến Tam Điệp, liền tìm ra chịu tội, Quang Trung biết là mưu của Ngô Thời Nhậm, nên bỏ qua. Nhận lệnh đem tiền quân tiến về Thăng Long
Ngày (30/Chạp) ban đêm, bên cạnh vua cùng chỉ đạo đánh diệt đồn Gián Khẩu của các tướng Lê Chiêu Thống. Sau đó đánh diệt các đồn Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, dụ hàng được đồn Hà Hồi.
Ngày (4/Giêng) ban đêm, tiến đánh đồn Ngọc Hồi.
Ngày 5 buổi trưa, tiến quân vào thành Thăng Long trong sự chào đón của nhân dân. Khi xét thưởng, được phong tước Ích Quốc công. Cùng Phan Văn Lân ở lại Thăng Long, trấn thủ Bắc Hà.
Năm 1790 (Canh Tuất)
Nam triều nhà Lê – Chiêu Thống 5
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung 3
Tháng 1 nhận chiếu cử làm Chánh sứ trong phái đoàn ngoại giao sang Yên Kinh (Trung Hoa) mừng vua Càn Long 80 tuổi.
Tháng 4, ngày 9, đêm, cùng đi có hơn 100 người. Trưởng đoàn là Ngô Thì Nhậm, với Đại Tư mã Ngô Văn Sở, Nguyễn Duật, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Quang Thuỳ và Đoàn Nguyễn Tuấn, Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung, Đặng Văn Chân, Vũ Huy Tấn và ban hát bội Bình Định. Lễ vật có hai con voi đực làm quà triều cống ngoài các cống phẩm thường lệ: ngà voi, sừng tê giác, yến, quế, gấm, đoạn, vàng, bạc…
Ngày 15, giờ Tỵ, đến Ải Nam quan. Đúng giờ cổng mở bằng một chìa khóa lớn dài khoảng một thước tây, cửa mở, đốt pháo, lính gác cầm giáo giàn chào. Chỉ có đoàn sứ đi qua, các quân lính, người khuân vác đều dừng lại trước cửa. Từ Ải Nam Quan, Trung Quốc hoàn toàn phụ trách việc tiếp rước, quân lính hộ vệ và phu khuân vác cùng xe ngựa hay thuyền. Theo thông lệ, tại đài Chiêu Đức, các rương hòm phẩm vật đều được mở ra, bày cúng tế, quan chức nhà Thanh kiểm kê chứng nhận phẩm vật, sau đó lại bỏ vào rương hòm, chèn kín bằng ống giấy dâm bào, đóng khèn có con dấu in chứng nhận, khóa kín cho đến Bắc Kinh mới mở ra.
Sứ đoàn được đưa về tiếp tân ở Thụ Hàng, ra mắt viên Tổng Đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An (phụ trách dẫn đường đến Bắc Kinh, và dẫn trở lại). Sứ đoàn lên thuyền theo sông Tây Giang vào đến sông Minh Ninh để theo kinh đào phía Bắc Quế Lâm vào sông Tương Giang từ đó đi vào Động Đình Hồ đến Hán Khẩu. Qua cửa sông Minh Ninh có thắng cảnh Di tích Hoàng Sào binh mã núi Hoa Sơn. Sứ đoàn dừng chân tại thành Cửu Giang, tỉnh Giang Tây được chủ lữ quán là Lã Triệu Tường tiếp đãi ân cần, liền viết thơ tặng.
Đến nhà trạm Võ Xương gần lầu Hoàng Hạc.
Được Càn Long đặc biệt chú ý vì biết rõ là đại thần trụ cột của Tây Sơn, nhân vật chủ chốt nhất, có quyền lực nhất nằm trong đoàn sứ bộ, lại trực tiếp coi giữ toàn quyền ở Bắc Hà. Triều đình Mãn Thanh cũng biết chuyện đưa vua Quang Trung giả sang, song cứ vờ xem như là thật.
Tháng (6), ngày (15) đến Vũ Xương thì gặp Ngô Vi Quý từ Yên Kinh đi về.
Đi qua các địa danh như: Miếu Nhạc Phi ở Yển Thành, Di chỉ Trú Cẩm Đường ở phủ thành Chương Đức, Vạn Lý Trường Thành, Nhiệt Hà tỉnh ở đông bắc Trung Quốc
Tháng (8), ngày (22), từ Tây Uyển, đoàn ra về. Đến thành Trác Châu đi qua miếu Tam Nghĩa, đến Hứa Châu.
Đêm trăng sứ đoàn đi ngang qua cửa ải Vũ Thắng. Về đến Vũ Xương, sứ đoàn lại lên thăm Hoàng Hạc Lâu
Giờ Thìn thuyền nhổ neo từ Nhạc Dương, gió bấc chuyển mạnh, sóng hồ nổi lên cuồn cuộn, thuyên chở và thuyển hành lý đều bị đắm. Đến giờ Mùi vượt qua hồ tới bến Tương Âm bèn mua rượu uống cho vui.
Tháng (10), ngày (29), đến Ải Nam quan
Được phong Thuỷ sư Đô đốc.
Năm 1792 (Nhâm Tý)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung 3/ Quang Toản – Cảnh Thịnh 1
Vua Quang Trung qua đời, con trai là Nguyễn Quang Toản lên ngôi, niên hiệu là Cảnh Thịnh. Được triệu hồi về Phú Xuân; do ủng hộ cậu vua là Bùi Đắc Tuyên nên được trọng đãi. Vua tấn phong chức Đại Đổng lý, tước Chấn Quận công, coi sóc cả việc quân và dân ở Bắc Thành. Dưới quyền cai quản, tình hình các trấn ở miền Bắc nhanh chóng ổn định, đi vào nền nếp. Thi hành nhiều chính sách tích cực, coi trọng văn học, mở khoa thi để thu dụng kẻ sĩ, đặt chức Huấn khoa để xét hỏi kẻ gian trong châu huyện… nên có uy tín lớn đối với nhân dân.
Năm 1793 (Quý Sửu)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Toản – Cảnh Thịnh 2
[Nguyễn Ánh đem quân đánh Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc cầu cứu ra triều đình Phú Xuân]
Nhận lệnh cùng Phạm Công Hưng đem 17.000 quân và 80 thớt voi vào cứu, quân Nguyễn Ánh rút lui. Thấy Phạm Công Hưng chiếm cứ kho tàng, giải giáp quân đội của vua Thái Đức nên can ngăn, nhưng không được, khiến cho Thái Đức uất ức mà chết, nhưng phần nào đã can thiệp cho các quan văn võ đại thần của vua Thái Đức khỏi bị hại. Sau đó lại trở về Phú Xuân.
Năm 1794 (Giáp Dần)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Toản – Cảnh Thịnh 3
Cùng Trần Văn Kỷ can gián vua Quang Toản và Thái sư Bùi Đắc Tuyên hành hình tướng Lê Văn Hưng nhưng không được.
Năm 1795
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Toản – Cảnh Thịnh 4
Ra Bắc Hà thay thế cho Vũ Văn Dũng
[Vũ Văn Dũng nghe lời Trần Văn Kỷ; phối hợp với Nguyễn Văn Huấn, Phạm Công Hưng bắt Bùi Đắc Tuyên. Cho là người cùng phe cánh với Bùi Đắc Tuyên nên Võ Văn Dũng đã làm giả chiếu vua]
Nhận được chiếu vua nên về Thăng Long, bị quân của Vũ Văn Dũng bắt, giải về Phú Xuân. Bị nhốt vào cũi sắt cùng hai cha con Bùi Đắc Tuyên, đem xuống sông Hương dìm chết.
5. Vinh danh
Nhà thờ tại làng Bình Thạnh, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cùng với em trai là Ngô Văn Ngữ.
Tượng thờ ở Bảo tàng Quang Trung, tỉnh Bình Định.
Năm 2002 (Nhâm Ngọ)
Đặt tên cho đường tại phường 9, Tp. Đà Lại, tỉnh Lâm Đồng
Năm 2010 (Canh Dần)
Tái hiện trong phim Tây Sơn hào kiệt do diễn viên Minh Đăng
Tên đường tại Tp. Đà Nẵng
Tên trường THCS ở Tp. Lào Cai
6. Tham khảo
a) Internet
ngotoc.vn: Ngô Văn Sở
vi.wikipedia.org: Ngô Văn Sở
ngotoc.vn: Đại Tư mã Ngô Văn Sở – Danh tường nhà Tây Sơn
b) Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)
Họ Ngô Việt Nam-Lược sử-Sự kiện-Nhân vật-Hệ phả của Ngô Đức Thắng (2000 Canh Thìn, Hà Nội)
Đại Nam chính biên liệt truyện
Tây Sơn Lương tướng ngoại truyện
Danh tướng Việt Nam tập 3 của Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần (2005 Ất Dậu, NXB Giáo Dục)
Đại Nam liệt truyện
Nhà Tây Sơn của Quách Tấn và Quách Giao (2002 Nhâm Ngọ, Bảo tàng Quang Trung)
Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh (1967 Đinh Mùi, NXB Hồn Thiêng, Sài Gòn)
Chín đời chúa mười ba đời chúa Nguyễn của Nguyễn Đắc Xuân (1988 Mậu Thìn, NXB Thuận Hoá, Huế)
Danh nhân Bình Trị Thiên tập 1 của Nhiều tác giả (1986 Bính Dần, NXB Thuận Hoá)
Bình Định: Đất võ trời văn của TS Đinh Văn Liên (2008 Mậu Tý, NXB Trẻ)
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế (1992 Nhâm Thân, Khoa học Xã hội, Hà Nội)
