Ngô Thì Du (1772 – 1840)
1. Thông tin
– Tên huý: Ngô Thì Du (吳時悠) hay Thời Du
Tự: Trung Phủ
Hiệu: Văn Bác
Tước vị: Đốc học Hải Dương
– Sinh năm 1772 (Nhâm Thìn) tại Hoan Châu, Nghệ An, Đại Việt (nay là Việt Nam)
Mất năm 1840 (Canh Tý) (68 tuổi) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia, nhà văn thời nhà Nguyễn Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.
2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Ngô Thì Ức và bà nội là Tưởng Thị
– Bố là Ngô Thì Đạo
b) Hôn nhân và con cái
– Có 5 người con trai: Ngô Thì Sùng, Ngô Thì Vỹ, Ngô Thì Dân, Ngô Thế Trụ và Ngô Thế Viêm.
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Ngô Khản, Ngô Thiên, Ngô Cảnh và Ngô Tỉnh.
3. Con người và tính cách
vi.wikipedia.org viết: Siêng học và học giỏi
Cuộc đời và sự nghiệp
Con thứ 2 trong gia đình 2 anh em (Ngô Thì Dịch và Ngô Thì Du)
Năm 1772 (Nhâm Thìn)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 32
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 5
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 7
Mùa xuân, ra đời tại Hoan Châu, Nghệ An
Năm 1787 (Đinh Mùi)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 32 – Chiêu Thống 1
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 5
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 9
[Nguyễn Huệ ra bắc lần 2]
Theo cha chạy về huyện Kim Bảng (Hà Nam), rồi Nam Chân (Nam Định) và nhiều nơi khác nữa
Năm 1796 (Bính Thìn)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Cảnh Thịnh 4
Trở về làng Tả Thanh Oai dựng nhà làm ruộng
Năm 1802 (Nhâm Tuất)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Cảnh Thịnh 10
Nhà Nguyễn – Gia Long 1
Bố qua đời
[Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long]
Rời làng, đưa vợ con về bên nhà thông gia, rau muối nuôi mẹ già, được ít lâu mẹ cũng qua đời
Năm 1812 (Nhâm Thân)
[Triều đình nhà Nguyễn ban chiếu cầu người tài ra giúp nước, bạn bè khuyên ra làm quan]
[Viên trấn thần ghi tên đệ lên]
Được bổ làm Đốc học Hải Dương.
Nhưng buồn nản, nhớ quê nên thường đau ốm luôn.
Công việc của quan Đốc học tỉnh lẻ không đơn giản xuôi chiều, bổng lộc lại chẳng có là bao mà trách nhiệm lại nặng nề, hoạn lộ không suôn sẻ. Thể chất vốn ốm yếu, lúc này càng đau ốm nhiều hơn, tính ra trong một năm, ngồi trên chiếu giảng chỉ được bốn tháng, còn thì ban ngày đóng cửa, ngồi trông thang thuốc bắc, biến công sở học đường thành nhà riêng dưỡng bệnh
Năm 1821 (Tân Tỵ)
Nhà Nguyễn – Minh Mạng 1
Nghe tin anh họ là Ngô Thì Hương qua đời
Năm 1822 (Nhâm Ngọ)
Một người cháu qua đời, càng buồn chán nên đã làm đơn xin thôi việc.
Năm 1827 (Đinh Hợi)
Triều đình chấp thuận đơn xin nghỉ, cho về quê dưỡng bệnh
Về sống ở quê làng Tả Thanh Oai
Năm 1839 (Kỷ Hợi)
Nghỉ hoàn toàn về nhà
Năm 1840 (Canh Tý)
Qua đời
4. Tác phẩm
Trung Phủ công thi văn gồm 76 bài gồm thơ, văn, phú
Ngô gia thế phả tông thống truyền văn ký
Tân đàm tâm kính, sách nghiên cứu về Phật học.
Viết 7 hồi trong phần tục biên của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí (hồi 8 – hồi 14)
5. Tham khảo
a) Internet
ngotoc.vn: Ngô Thời Du
traonha.wordpress.com: Họ Ngô Thì – Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội
vi.wikipedia.org: Ngô Thì Du
b) Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)
Bản Phả chữ Hán của Ngô Ái (1871 Tân Mùi, Tự Đức 12)
Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp (2003 Quý Mùi, NXB Khoa học Xã hội)
Từ điển văn học của Phạm Tú Châu (2004 Giáp Thân, Nhà xuất bản Thế giới)
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học Xã hội)
Hoàng Lê nhất thống chí của Trần Nghĩa (2006 Bính Tuất, NXB Văn học)
