Vũ Thị Tố (1768 – 1852)

1. Thông tin

– Tên huý: Vũ Thị Tố

Thuỵ hiệu: Từ Minh

– Sinh giờ Hợi, năm 1768 (19/Giêng/Kỷ Sửu) tại thôn Phượng, xã Hiệp Luật, Đại Việt (nay là Việt Nam)

Mất giờ Tuất, năm 1852 (16/Giêng/Nhâm Tý) (84 tuổi) tại thôn Giữa, xã Tang Trữ, Đại Nam (nay là Việt Nam)

– Giới tính: Nữ

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc:

– Là người dân thời nhà Lê trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Bà ngoại là Nguyễn Thị

– Bố là Vũ Nhã Lương

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với chồng là Ngô Huy Thiểm

– Có 2 người con trai: Ngô Tùng Hiên và Ngô Thế Vinh

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Ngô Huy Sản, Ngô Thị Lan, Ngô Thị Huệ, Ngô Lý Cát, Ngô Lý Hanh, Ngô Lý Nhu, Ngô Lý Tin, Ngô Lý Dịch, Ngô Lý Sang, Ngô Lý Khiêm, Ngô Lý Diên, Ngô Thị Tình, Ngô Thị Trang và Ngô Thị Thành.

3. Con người và tính cách

hongonamduongnamdinh viết: …có trí nhớ rất tốt. Đầu óc thì càng nhanh nhẹn

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con thứ 2 trong gia đình 6 anh chị em (Vũ Thị Tố, Lãm Đức cư sĩ)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng – Hiển Tông

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương

Đàng trong nhà Nguyễn – Đinh vương

Được theo học cùng các em

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng – Hiển Tông

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương

Năm 1778 (Mậu Tuất) khi 10 tuổi, bố mất

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng – Hiển Tông

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức

Đàng ngoài chúa Trịnh – Điện Đô vương/Đoan Nam vương

Năm 1782 (Nhâm Dần) khi 14 tuổi, có nhiều danh gia đến cầu hôn, nhưng đều từ chối.

Năm 1784 (Giáp Thìn) được sắp đặt gả cho học trò của cha là Ngô Huy Thiểm. Nhà chồng rất nghèo, nên tự biết hạ mình.

Làm lụng vất vả nên sinh bệnh, phải nhờ vào mẹ ruột. Được em là Lãm Đức cư sĩ giúp đỡ.

Làm nghề dệt vải, chưa đầy tháng được 45 công

Chuyển nhà về thôn Giữa, xã Tang Trữ; kinh tế khấm khá hơn, vẫn ngày đêm cực nhọc lo toan, chồng hỏi:

– Nàng sao phải khổ vậy

Liền đáp:

Thiếp tôi tự lo ổn thỏa được hết. Nhà ta là nhà Nho thanh bạch, tằn tiện, may sao cũng đủ lo việc khách khứa tế lễ. Hơn nữa người xưa dựng nghiệp cũng từ những việc này đấy thôi.

Nhà Nguyễn – Gia Long 6

Năm 1807 (Đinh Mão) chiếu vua ban cho những người ngụ cư quay lại quê cũ (thôn Phượng, Xã Hiệp Luật), bèn bàn với chồng xin anh là Ngô Lệnh Huyền để về quê tổ. Được anh khen rằng:

Ta vẫn biết em dâu có chí khí của bậc trượng phu, không hổ là con cháu nhà nho. Em ta có thể chấn hưng, thì lẽ nào ta lại cứ nương ở quê người hay sao.

Bàn bạc và nhờ được Hoằng tín đại phu Thiêm sự họ Vũ đứng ra mua ruộng đất thổ trạch, cho cả họ nhà chồng về quê cũ. Được người trong xã vui vẻ giúp đỡ, xây dựng nhà cửa khang trang, mở ra giáp Thiện Phúc. Anh họ là Ngô Huy Khuê vui sướng nói:

Họ ta hồi hương, sau này ắt sẽ phát đạt lớn. Em dâu có công đứng đầu.

Năm 1808 (Mậu Thìn) do chiến tranh nên nhà cháy, chồng muốn đưa nhà về Quần Anh. Không muốn, liền dựng tranh tre, yên vị trong ngoài, bèn nói:

Việc nhà không gì quan trọng bằng tiếp khách với thờ cúng, phải đầy đủ sạch sẽ. Còn ăn mặc ta không để ý.

Con trai trưởng là Thế Mỹ đi học, bèn thay chồng dạy con sách Đại học, Quân tử xưa; còn nhận thêm học trò.

Năm 1795 (Ất Mão) nghe con trai cả đỗ giải nguyên, liền nói:

Ngày trước, ta thấy sĩ tử ngồi nghiêm chỉnh trong thuyền. Ta hỏi đi đâu, họ nói đi mời thầy Giải nguyên  họ Nguyễn ở Bồng Lai về dạy học. Bấy giờ, lòng ta chỉ mong sao cho con mình cũng được như vậy. Nay may mắn cũng được như ý nguyện. Cụ tổ nhà ta đỗ đại khoa, chiếm ngôi đầu. Con cháu ta phải càng cố gắng nối tiếp.

Năm 1822 (Nhâm Ngọ) chồng ốm, cùng con dâu là Phạm Thị và người nghĩa bộc là Nguyễn Bình chăm sóc

Năm 1829 (Kỷ Sửu) con thứ là Thế Vinh thi đỗ Tiến sĩ, liền nói với các con:

Cha các con trước cũng nổi tiếng nghiệp văn, nhưng gặp buổi suy tàn không thoả chí đỗ Hướng tiến. Cha các con đã hết sức dạy dỗ con cái đến kiệt sức, nên con và anh con mới thi đỗ. Vậy mà cha các con không đợi được ngày sự phụng dưỡng. Mẹ sống tới ngày nay, nghĩ tới công đức của cha con xưa càng thêm thương xót.

Và căn dặn con khi làm quan:

Như người quân tử ngày xưa, phải cung kính đôn hậu. Ta chỉ mong như vậy.

Khi con thứ lui về thì nói:

Là học trò thì cứ theo trời ban mệnh. Dốc vào phúc đức, hiển dương thanh danh, ấy là một việc. Trong thì dạy con cháu, ngoài thì dẫn dắt người đi sau, ấy cũng là một việc. Sống an nhiên theo mệnh, mọi việc cần mẫn thì không gì phải chê trách.

Thấy các con về nhà lâu, bèn nói:

Nhân sỹ các nơi đang chờ các con đông lắm đấy. Phải gắng sức chuyên tâm dạy dỗ.

Nhà Nguyễn – Tự Đức 5

Năm 1852 (16/Giêng/Nhâm Tý) nói với con thứ rằng:

Nay mẹ sẽ mất, con lo việc tang lễ. Tang lễ xong bảo cháu đích tôn thừa trọng là Thế Đức tế Ngu. Xong việc tang con phải tới trường dạy ngay. Không để việc gì làm trở ngại sự nghiệp.

Đến giờ Tuất thì từ trần.

5. Vinh danh và giải thưởng

Năm 1852 (29/Giêng/Nhâm Tý) Phiên sứ Phan Đại Nhân dự đề thần chủ ở tế đường, Phạm nguyên Giám sát Ngự sử Rước thần chủ.

Ngày 3/2 làm lễ mai táng tại xứ Ông Pháp (Hoàng Lãn Trai chọn đất; được đặt lại do Cử nhân Vũ Doãn Hiển và Tú tài Trần Bá Vệ)

6. Tham khảo

– Internet

traonha.wordpress.com

hongonamduongnamdinh.com

– Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (Đinh Dậu 1477, niên hiệu Hồng Đức Lê Thánh Tông)

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *