Ngô Huy Thiểm (1759 – 1822)
1. Thông tin
– Tên huý: Ngô Huy Thiểm
Tên gọi: Huy Bản
Hiệu: Lương Quý
– Sinh năm 1759 (Kỷ Mão) tại Đại Việt (nay là Việt Nam)
Mất năm 1822 (26/8/Nhâm Ngọ) tại Việt Nam (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
– Là chính trị gia thời nhà Lê trong lịch sử Việt Nam.
2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Ngô Thế Lễ và bà nội là Vũ Thị
– Bố là Ngô Đình Trạc và mẹ là Nguyễn Thị Liên
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với vợ là Vũ Thị Tố
– Có 2 người con trai: Ngô Tùng Hiên và Ngô Thế Vinh
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Ngô Huy Sản, Ngô Thị Lan, Ngô Thị Huệ, Ngô Lý Cát, Ngô Lý Hanh, Ngô Lý Nhu, Ngô Lý Tin, Ngô Lý Dịch, Ngô Lý Sang, Ngô Lý Khiêm, Ngô Lý Diên, Ngô Thị Tình, Ngô Thị Trang và Ngô Thị Thành.
3. Cuộc đời và sự nghiệp
Con thứ 3 trong gia đình 5 anh em (Ngô Lệnh Huyền, Ngô Lệnh Đôn, Ngô Huy Thiểm, Ngô Thế Diệu và Ngô Huy Ánh)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương
Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương
Học trò của anh họ là Ngô Đình Thụ, sau đó học với Vũ Nhã Lượng
Năm 1780 (Canh Tý) đỗ Sinh đồ (Sảo thông Hiệu sinh)
Nhà Lê mất, không thi được tiếp
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng – Hiển Tông
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương
Năm 1784 (Giáp Thìn) lấy con gái của thầy Nhã Lượng làm vợ
Đi dạy học ở Quần Anh, Cát Giang
Chuyển nhà về thôn Giữa, xã Tang Trữ; kinh tế khấm khá hơn, thấy vợ vẫn cực nhọc lo toan, bèn hỏi:
– Nàng sao phải khổ vậy
Thị Tố đáp:
– Thiếp tôi tự lo ổn thỏa được hết. Nhà ta là nhà Nho thanh bạch, tằn tiện, may sao cũng đủ lo việc khách khứa tế lễ. Hơn nữa người xưa dựng nghiệp cũng từ những việc này đấy thôi.
Nhà Nguyễn – Gia Long 6
Năm 1807 (Đinh Mão) chiếu vua ban cho những người ngụ cư quay lại quê cũ, cùng vợ xin anh trai là Ngô Lệnh Huyền để về quê tổ. Bàn bạc và nhờ được thông gia là Hoằng tín đại phu Thiêm sự họ Vũ đứng ra mua ruộng đất thổ trạch, cho cả họ về quê cũ. Mở ra giáp Thiện Phúc.
Năm 1808 (Mậu Thìn) do chiến tranh nên nhà cháy, định đưa nhà về Quần Anh, nhưng vợ không đồng ý. Được Hào mục trong ấp mời về mở trường. Khi về thì nhà tranh tre đã dựng xong, trong ngoài yên vị, vợ lại thay thế dạy học cho con trưởng là Thế Mỹ
Thời Nguyễn
Nhậm chức Tổng giáo, Hậu thần bản xã. Có hơn 300 học trò theo học.
Nhà Nguyễn – Minh Mạng 3
Năm 1822 (Nhâm Ngọ) bị ốm rồi từ trần
4. Tham khảo
– Internet
– Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (Đinh Dậu 1477, niên hiệu Hồng Đức Lê Thánh Tông)
