Ngô Quyền (898 – 944)

HỒ SƠ NHÂN VẬT

– Tên gọi: Ngô Quyền (吳權)

Tự xưng: Tiền Ngô Vương (前吳王)

– Sinh năm 898 (Mậu Ngọ)

Mất năm 944 (Giáp Thìn) (47 tuổi)

Quê quán: Đường Lâm, Tĩnh Hải quân

– Giới tính: Nam

Dân tộc: Kinh

– Nghề nghiệp: Quân sự gia

Chức vụ cao nhất: Vua nhà Ngô

ngo-quyen

– Là vua, quân sự gia và nhà chính trị thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Ông nộiNgô Đình Thực

– BốNgô Đình MânmẹPhùng Thị Tịnh Phong

Bố nuôi Dương Đình Nghệ

Đời 6

Con cả trong gia đình 2 anh em (Ngô Quyền và Ngô Tịnh)

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là Dương Phương Lan, Dương Thị Như Ngọc và Đỗ phi

– Có 4 người con trai: Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn, Ngô Cần Hưng và Ngô Nam Hưng

c) Hậu duệ

– Cháu nội: Ngô Xương Xý, Ngô Xương Tỷ và Ngô Nhật Chung

3. Con người và tính cách

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư: Ngô Quyền vừa mới sinh có ánh sáng lạ đầy nhà, dung mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Ngô Quyền lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc bằng đồng.

Theo Trần Trọng Kim chép trong Việt Nam sử lược: Ngô Quyền trong thì giết được nghịch thần, báo thù cho chủ, ngoài thì phá được cường địch, bảo toàn cho nước, thật là một người trung nghĩa lưu danh thiên cổ, mà cũng nhờ có tay Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi được ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, và mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần về sau này được tự chủ ở cõi Nam vậy.

Dáng người như cọp, tiếng nói như sấm, mắt sáng như chớp.

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Năm 898 (Mậu Ngọ)

Bắc thuộc – Càn Ninh 5

[Nhà Đường ở Trung Quốc cai trị nước Việt, từ giữa thế kỷ IX]

Sinh ngày 17/4 (tức ngày 12/3) tại Đường Lâm, Tĩnh Hải quân (nay là Phường Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, Việt Nam)

Năm 918 (Mậu Dần) khi 20 tuổi

Họ Khúc – Khúc Hậu Chủ 1

Lấy vợ là Dương Phương Lan

Theo dã sử và truyền tụng trong dân gian, Ngô Quyền có một người vợ đầu tên là Dương Phương Lan, người làng Yên Nhân thuộc miền Thượng Phúc (nay là thôn Yên Nhân, xã Hòa Chính, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội). Khi Ngô Quyền tìm về dưới trướng hào trưởng Dương Đình Nghệ, đã dẫn theo vợ.

[Dương Đình Nghệ nhận nuôi 3.000 con nuôi với mưu đồ khôi phục nước nhà, mong thoát khỏi ách đô hộ của nhà Đường]

Làm con nuôi của hào trưởng Dương Đình Nghệ người Ái Châu (thuộc Thanh Hóa ngày nay).

Được bố nuôi phong làm Nha tướng

Được cha nuôi gả con gái cả là Dương Thị Như Ngọc và giao quyền cai quản Ái châu, đất bản bộ của họ Dương.

Năm 937 (Đinh Dậu)

Họ Dương – Dương Chính Công 6

Họ Kiều – Kiều Công Tiễn 1

Cha nuôi bị Kiều Công Tiễn sát hại

Được tin về việc phản nghịch của Kiều Công Tiễn nên nhanh chóng tập hợp lực lượng, phát binh từ Ái châu, kéo quân vượt đèo Ba Dội ra Bắc đánh Kiều Công Tiễn.

Năm 938 (Mậu Tuất)

Họ Kiều – Kiều Công Tiễn 2

[Mùa thu, thời tiết mưa dầm gió bấc]

[Kiều Công Tiễn bị vây, sức quân yếu nên sai sứ sang đút lót cho nhà Nam Hán để qua cứu mình.

Vua Nam Hán là Lưu Cung, nhân Giao Chỉ có loạn muốn chiếm lấy. Phong cho con mình là Vạn vương Lưu Hoằng Tháo làm Giao Vương, đem quân cứu Kiều Công Tiễn]

Tháng 10 Ngô Quyền đã giết được Kiều Công Tiễn đem bêu ở ngoài cửa thành Đại La.

Nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, liền bảo các tướng tá rằng: 

Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được.

Con trưởng là Ngô Xương Ngập dâng lời, bảo rằng:

Quân địch có lợi thế ở chiến hạm, ta chưa chuẩn bị trước thì thắng thua chưa biết thế nào. Xin vương cho trồng cọc ở hai bên cửa biển, khi nước thủy triều dâng lên, sai người lấy thuyền nhẹ giao chiến với quân địch, giả dạng thua chạy để mà đánh, tất quân của Hoằng Tháo tự như ngói mà tan vỡ!.

Thấy kế hay, bèn cho quân đóng đại bản doanh, chiêu binh tập mã ở các khu vực Từ Lương Xâm (nay là Phường Nam Hải, Thành phố Hải Phòng), khu vực Vườn Quyến ( nay là Phường Đông Khê, Thành phố Hải Phòng). Cho bắc một cây cầu gọi là cầu Gù nối liền doanh trại với làng Đông Khê để thuận tiện cho việc đi lại và tiếp tế của nghĩa quân và nhân dân.

Các làng quanh khu vực nghĩa quân đóng trại cũng đã hăng hái xung phong làm quân cận vệ và tham gia vào công việc chuẩn bị, gọt đẽo và đóng những cọc gỗ xuống lòng sông Bạch Đằng để đánh quân Nam Hán. Ba tám chàng trai làng Gia Viễn (nay là Thành phố Hải Phòng) do Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu, đã tự vũ trang, xin theo phá giặc. Trai tráng các làng Lâm Động (nay là Phường Hoàng Lâm, Thành phố Hải Phòng), Đằng Châu (nay là Phường Hồng Châu, Tỉnh Hưng Yên), người mang vũ khí, kẻ mang chiến thuyền, tìm đến cửa quân xin diệt giặc. Ba anh em Lý Minh, Lý Bảo và Lý Khả ở Hoàng Pha (nay là Phường Hoàng Lâm, Thành phố Hải Phòng), ông tổ họ Phạm ở Đằng Giang (nay là Phường Gia Viên, Thành phố Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng hái tham gia kháng chiến.

Huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt rồi cho đóng xuống lòng sông thành hàng dài tạo thành một bãi cọc, một bãi chướng ngại dày đặc ở hai bên sông. Khi triều lên mênh mông, thì cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qua lại. Bãi cọc tăng thêm phần hiểm trở cho địa hình thiên nhiên.

Giao cho Dương Tam Kha chỉ huy đạo quân bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đạo quân bên hữu ngạn, mai phục ở hai bên bờ sông để cùng phối hợp với thủy binh đánh tạt ngang vào đội hình quân địch và sẵn sàng tiêu diệt số quân địch trốn chạy lên bờ. Ngược lên phía thượng lưu là một đạo thủy quân mạnh phục sẵn làm nhiệm vụ chẹn đầu, chờ khi nước xuống sẽ xuôi dòng đánh vỗ mặt đội binh thuyền của địch.

Giao cho Nguyễn Tất Tố, vốn giỏi bơi lặn và quen thuộc sông nước, với nhiệm vụ khiêu chiến, nhân lúc nước triều lên, giả thua chạy về nhử địch đuổi theo vượt qua bãi cọc vào cạm bẫy bên trong.

Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên, Bèn tiến quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. Quân Nam Hán không kịp sửa thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nửa. Thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi. Vua Nam Hán đồn trú ở cửa biển để cứu trợ nhưng không làm gì được; thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về.

Năm 939 (Kỷ Hợi)

Nhà Ngô – Tiền Ngô Vương 1

[Mùa xuân]

Ngày 1/2 (10/1) xưng là Ngô Vương, lập Dương thị làm Hoàng hậu, đặt đủ 100 quan, dựng ra nghi lễ triều đình, định các sắc áo mặc. Bãi bỏ chức Tiết độ sứ. Đóng đô ở Cổ Loa, thuộc Phong Châu (nay là Xã Đông Anh, Thành phố Hà Nội). Xây dựng nhà nước tự chủ, trở thành vị vua sáng lập ra nhà Ngô. Có quyền lực ở các châu mà cư dân là con cháu của người Lạc Việt, tức miền trung du và miền đồng bằng Bắc bộ, vùng Thanh Nghệ.

Về lãnh thổ, học giả Đào Duy Anh cho rằng các triều đại phong kiến đầu tiên cai trị 8 châu: Giao, Lục, Phong, Trường, Ái, Diễn, Hoan, Phúc Lộc nằm trên đất Giao Châu cũ. Ngô Quyền chỉ có quyền lực ở các châu miền trung du và miền đồng bằng Bắc bộ, vùng Thanh Nghệ; còn miền thượng du là các châu ky my (châu tự trị, chỉ phải cống nạp), của nhà Đường trước kia, do các tù trưởng nắm giữ mà độc lập.

 Lý giải cho việc Ngô Quyền không chọn Đại La sầm uất và có truyền thống nhiều thế kỷ là trung tâm chính trị trước đó, các sử gia cho rằng có 2 nguyên nhân: tâm lý tự tôn dân tộc và ý thức bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước từ kinh nghiệm cũ để lại:

– Ý thức dân tộc trỗi dậy, tiếp nối quốc thống xưa của nước Âu Lạc xưa, quay về với kinh đô cũ thời Âu Lạc, biểu hiện ý chí đoạn tuyệt với Đại La do phương Bắc khai lập.

– Đại La trong nhiều năm là trung tâm cai trị của các triều đình Trung Quốc đô hộ Việt Nam, là trung tâm thương mại sầm uất nhiều đời chủ yếu của các thương nhân người Hoa nắm giữ. Đại La do đó là nơi tụ tập nhiều người phương Bắc, từ các quan lại cai trị nhiều đời, các nhân sĩ từ phương Bắc sang tránh loạn và các thương nhân. Đây là đô thị mang nhiều dấu vết cả về tự nhiên và xã hội của phương Bắc, và thế lực của họ ở Đại La không phải nhỏ. Do đó lực lượng này dễ thực hiện việc tiếp tay làm nội ứng khi quân phương Bắc trở lại, điển hình là việc Khúc Thừa Mỹ nhanh chóng thất bại và bị Nam Hán bắt về Phiên Ngung. Rút kinh nghiệm từ thất bại của Khúc Thừa Mỹ, Ngô Quyền không chọn Đại La.

Theo Tạ Chí Đại Trường: Chiếm giữ Đại La xong, Ngô Quyền không đóng đô nơi phủ trị cũ mà lại tìm một vị trí bên lề để canh chừng. Tại sao? Vì còn tự ti thấy mình chưa đủ sức thay thế chủ cũ? Hay vì cái thế Đại La trống trải trong tầm sông nước dễ dàng cho sự xâm lấn của Nam Hán so với Cổ Loa khuất lấp hơn một ít mà vẫn còn có ngôi thành Kén của Mã Viện làm thế đương cự? Dù sao thì sự từ chối Đại La cũng là một dấu vết co cụm để tính chất địa phương nổi lên không những chỉ trong gia đình ông mà còn thấy trong cách ứng xử của các tập đoàn quyền lực khác ở phủ Đô hộ cũ nữa.

Những người thân cận, các tướng tá cùng các hào trưởng địa phương quy phục đã được nhà Ngô phong tước, cấp đất, như Phạm Lệnh Công ở Trà Hương (nay là xã Nam Sách, Thành phố Hải Phòng), Lê Lương ở Ái châu, Đinh Công Trứ (cha của Đinh Bộ Lĩnh) ở Hoan Châu.

Viết di chúc cho Dương Tam Kha phò tá con mình là Ngô Xương Ngập.

Năm 944 (Giáp Thìn)

Nhà Ngô – Nam Tấn Vương

Ngày 14/2 (18/1) qua đời, hưởng dương 46 tuổi, trị vì được 6 năm.

Ngày 18/2 an táng, gọi là Lăng Ngô Quyền.

5. Tôn vinh

Vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam

Một trong 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam.

Phan Bội Châu xem như là vị Tổ Trung hưng của Việt Nam

Ngày 14/8 (ÂL) hàng năm là ngày giỗ truyền thống.

Đền và lăng thờ Ngô Quyền ở quê hương Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Tp. Hà Nội).

Có gần 50 nơi khác có liên quan thờ Ngô Quyền và các tướng lĩnh thuộc triều đại Ngô Vương, trong đó nhiều nhất thuộc vùng đất Hải Phòng (34 di tích), Thái Bình (3 di tích), Hà Nam (1 di tích), Phú Thọ (1 di tích), Hưng Yên (3 di tích).

Thành phố Hải Phòng có nhiều di tích gắn liền với Ngô Quyền cùng với chiến thắng Bạch Đằng năm 938.

Các cơ sở thờ tự:

– Tiền Ngô Vương lăng ở Thôn Cam Lâm, Xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

– Đền Già (Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên): thờ Ngô Quyền và Hoàng hậu Dương Thị Vy.

– Đền Vương (Thị trấn Vương, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên): thờ Ngô Quyền và Hoàng hậu Dương Thị Vy.

– Đình làng Nghĩa Chế (Dị Chế, Tiên Lữ, Hưng Yên): thờ Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn.

– Đình Hiền Lương (An Tiến, Mỹ Đức, Hà Nội): thờ Ngô Quyền.

– Đình Thượng Tiết (Đại Hưng, Mỹ Đức, Hà Nội): thờ Ngô Quyền.

– Từ Lương Xâm (Nam Hải, An Hải, Hải Phòng) đại bản doanh của nghĩa quân: thờ Ngô Vương Quyền cùng các tướng lĩnh.

– Tượng đài Ngô Quyền (Nam Hải, An Hải, Hải Phòng).

– Đền thờ Ngô Quyền (Thị trấn Mỹ Đức, Thủy Nguyên, Hải Phòng): thờ Ngô Quyền.

– Đền Trạng Chiếu (Hải Triều, Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình): thờ Ngô Quyền và Phạm Đôn Lễ.

– Đền thờ Ngô Quyền (Cam Lâm, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội): thờ Ngô Quyền.

– Đình Hải Triều (Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình): thờ Ngô Quyền.

– Đình An Trì (Hùng Vương, Hồng Bàng, Hải Phòng): thờ Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập.

– Đình Lạc Viên (108 Lạc Xuân Đài, Lạc Viên, Ngô Quyền, Hải Phòng): thờ Ngô Quyền.

– Đền Chẹo (Nam Cường, Tam Nông, Phú Thọ): thờ Ngô Quyền.

– Đình Ngô Xá (Nguyễn Xá, Bồ Đề, Bình Lục, Hà Nam): thờ Ngô Quyền và Hoàng hậu Dương Thị Vy.

– Đình Ninh Xá, xã Lê Ninh, Tx. Kinh Môn, Hải Dương thờ Ngô Quyền và Phùng Hưng.

– Đình Đông Khê, phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, Tp Hải Phòng: Thờ Ngô Vương Thiên Tử cập tùy tòng bộ chúng

– Đình Phụng Pháp, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Tp Hải Phòng: Thờ Ngô Vương Quyền

– Đình Nam Pháp, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Tp Hải Phòng: Thờ Ngô Vương Quyền

– Đình Hàng Kênh, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, Tp Hải Phòng: Thờ Ngô Vương Quyền

– Miếu Trung Hành, phường Đằng Lâm, quận Hải An, Tp Hải Phòng: Thờ Ngô Vương Quyền

– Miếu Xâm Bồ, phường Nam Hải, quận Hải An, Tp Hải Phòng: Thờ Ngô Vương Quyền. Ngoài ra các di tích đình miếu thuộc các làng cổ tại Quận Hải An, Tp Hải Phòng đều thờ Đức Ngô Vương Thiên Tử làm thánh thành hoàng.

Nhiều đường phố mang tên Ngô Quyền như tại quận Hoàn Kiếm và Hà Đông, Hà Nội, thành phố Thanh Hóa, thị xã Quảng Yên, thành phố Đà Nẵng, thành phố Quy Nhơn… Tên ông cũng là tên của một quận nội thành của Hải Phòng. Nhiều trường học ở Việt Nam cũng mang tên Ngô Quyền.

6. Tham khảo

a) Internet

vi.wikipedia.org: Ngô Quyền

nhandan.com.vn: Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng lịch sử

ngotoc.vn: Ngô Quyền

traonha.wordpress.com: LỊCH SỬ HỌ NGÔ VIỆT NAM

b) Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Bản Ngọc phả về Tiền Ngô Vương Thiên tử Xã Lương Xâm (nay thuộc Phường Hải An, Thành phố Hải Phòng)

Đại Việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sỹ Liên

Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sỹ.

Khảo tổng luận của Lê Tung.

One comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *