1. Thông tin
– Tên huý: Ngô Thì Nhậm (呉時任) hay Thời Nhậm
Ngô Thời Nhiệm (吳時任) hay Ngô Thì Nhiệm
Đổi tên do kỵ huý với tên của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (Phúc Thì)
Các tỉnh miền trung và miền nam gọi là Thời Nhiệm
Hiệu: Đạt Hiên (達軒)
Tự: Hy Doãn (希尹)
Pháp hiệu: Hải Lượng Thiền sư
Tước vị: Binh bộ Thượng thư Tổng tài Quốc sử quán
Tước hiệu: Phương Quận công
– Sinh ngày 25/10/1746 (Bính Dần) tại làng Tó, hương Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam Hạ, tỉnh Hà Đông, Đại Việt (nay là xã Đại Thanh, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội, Việt Nam)
Mất ngày 9/3/1803 (Quý Hợi) (57 tuổi) tại Huế, Đại Việt (nay là Việt Nam)
– Giới tính: Nam
– Quốc tịch: Đại Việt
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Phật giáo
– Là chính trị gia, nhà sử học, nhà văn, nhà thơ, tu sĩ Phật giáo thời nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình
a) Thân thế
– Ông nội là Ngô Thì Ức và bà nội là Tưởng Thị
– Bố là Ngô Thì Sĩ và mẹ là Ngô Vi
b) Hôn nhân và con cái
– Quan hệ gia đình với 2 vợ là Ngô Đình Tú Anh và Hoàng Thị Yến
– Có 6 người con trai: Ngô Thì Diễn, Ngô Thì Nghi, Ngô Thì Quán, Ngô Thì Hiệu, Ngô Thì Nhiên và Ngô Thì Huệ
c) Hậu duệ
– Cháu nội: Ngô Thời Kiện, Ngô Thời Tố, Ngô Thời Tín, Ngô Thời Hựu, Ngô Thì Xướng, Ngô Thì Giai, Ngô Thì Trượng và 2 cháu gái.
3. Con người và tính cách
Ngotoc.vn: Cuộc đời có nhiều bước thăng trầm, là người có tài, học rộng, sự nghiệp văn chương lớn
Wikipedia.org chép: thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về lịch sử […] Những văn kiện ngoại giao của Ngô Thì Nhậm thể hiện rõ nguyên tắc về chủ quyền lãnh thổ, danh dự quốc gia với các chính sách mềm dẻo, linh hoạt, cứng rắn
Vnexpress.net viết: …hội tụ đầy đủ những phẩm chất của một người trí thức lỗi lạc với những cống hiến rất lớn trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, triết học và văn học.
Sách Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam của Trường Chinh đã đã xếp Ngô Thì Nhậm vào hàng ngũ những thiên tài mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam làm vẻ vang cho giống nòi.
4. Cuộc đời và sự nghiệp
Con cả trong gia đình 6 anh em (Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Thục, Ngô Thì Đan, Ngô Thì Định và Ngô Thị Thực)
Năm 1746 (Bính Dần)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 6 – Hiển Tông 6
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 6
Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương 8
Học tại nhà với cụ ông nội
Sang học với bố, có các bạn học là Phan Huy Ích, Đặng Trần Thường.
Một lần bố bảo hãy cố chiếm lấy cho được vị trí trong cuộc tranh đua khoa giáp, khi đó có mặt Phan Huy Ích và Đặng Trần Thường.
Năm 1760 (Canh Thìn)
Mẹ qua đời
Năm 1761 (Tân Tỵ) khi 16 tuổi
Viết sách Nhị thập tứ sử toát yếu dưới sự hướng dẫn của bố
Có bản ghi là Nhị thập thất sử toát yếu
Năm 1765 (Ất Tỵ) khi 19 tuổi
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 25 – Hiển Tông 25
Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 25
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 1
Đỗ đầu khoa thi Hương
Năm 1766 (Bính Ngọ) khi 20 tuổi
Viết sách Tứ gia thuyết phả
Năm 1768 (Mậu Tý)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 28 – Hiển Tông 28
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 1
Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 3
Đỗ Giải nguyên, được bổ Hiến sát phó sứ Hải Dương
Năm 1769 (Kỷ Sửu)
Đỗ khoa Sỹ vọng
Năm 1771 (Tân Mão)
Viết văn tế thứ mẫu Nguyễn Thị
Dự khảo thí ở Quốc tử giám, đỗ ưu hạng
Viết sách Hải đông chí lược (địa phương chí của Hải Dương)
[Bố bị cách chức]
Xin về theo bố
Năm 1775 (Ất Mùi)
Đỗ thi Hội, đạt thứ 5 Tiến sĩ Tam giáp, đạt học vị cao nhất thang giá trị học vấn thời đó. Được chúa Trịnh Sâm khen: Tài học không ở dưới người
Được bổ làm Hộ khoa Đô Cấp sự trung bộ Hộ
Khi vinh quy được rước về làng, thấy Đặng Trần Thường ra chặn ngay đầu đường kéo quần xuống đái.
[Các quan và chức dịch sở tại thấy vậy đuổi bắt và đánh Thường mấy chục roi].
Năm 1776 (Bính Thân)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 36 – Hiển Tông 36
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 9
Đàng trong chúa Nguyễn – Tân Chính vương 1
Được bổ làm Giám sát Ngự sử đài đạo Sơn Nam.
Được thăng Đốc đồng trấn Kinh Bắc
Năm 1778 (Mậu Tuất)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 38 – Hiển Tông 38
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 11
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 1
Kiêm thêm chức Đốc đồng Thái Nguyên.
Dâng nhiều kế sách trong đạo trị nước, trong đó có nhiều bài biếu như: Giáo nghị, Pháp nghị, Chính nghị…
Phong Thượng thư Phương Quận công
Năm 1780 (Canh Tý)
Làm Đông các Hiệu thư.
Được thăng 3 cấp (đang từ Hàm Lục phẩm) lên chức Công bộ Hữu thị lang hàng Tam phẩm vào phụng thị trong Phủ Chúa.
Ngày 22/10 (29/8) buổi tối, bố qua đời.
[Chuyện được thăng cấp, dư luận nghi ngờ, dèm pha. Đồn rằng chuyện “sát tứ phụ nhi thị lang” (giết bốn cha để được chức Thị lang]
Bốn cha ý chỉ Ngô Thì Sĩ và ba người bạn vong niên của ông Sĩ là Nguyễn Khản, Nguyễn Phương Đĩnh và Nguyễn Khắc Tuân.
Sách Lê quý dật sử chép: Sĩ thấy con bè đảng xu phụ Tuyên phi (Đặng Thị Huệ), vu khống Thế tử, ông bất bình, ra sức khuyên ngăn, nhưng Nhậm không nghe, ông phẫn uất uống thuốc độc tự tử… (Sau vụ án) cất nhắc Ngô Thì Nhậm làm Công bộ Tả Thị lang, vì tố cáo Thế tử (Trịnh Khải) nên được ban thưởng, thăng vượt cấp bảy lần.
Sách Hoàng Lê nhất thống chí lại chép rằng một mình Nguyễn Huy Bá đứng ra tố giác, còn Ngô Thì Nhậm thì đã có lời khuyên Nguyễn Khắc Tuân phải hỏa tốc về kinh can ngăn Trịnh Khải dừng lại cơ mưu, nhưng không được nghe. Đến khi ông Tuân bị bắt giam, ông Nhậm định tìm cách gỡ tội, nhưng vì việc tang (cha mất) nên phải về
Xin về cư tang.
Năm 1782 (Nhâm Dần)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 42 – Hiển Tông 42
Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 6/Điện Đô vương 1/Đoan Nam vương 1
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 4
[Trịnh Sâm chết, quân Tam phủ nổi lên phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông làm Đoan Nam Vương, giết chết Huy Quận công Hoàng Tố Lý, bắt Tuyên phi Đặng Thị Huệ]
Lánh nạn ở Thái Bình
Về ẩn náu tại quê vợ ở Sơn Nam, xã Bách Tính, huyện Nam Chân, Nam Định (nay là Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định)
Hoàn thành tác phẩm khảo cứu Xuân Thu quản kiến và tập thơ Thủy vân nhàn vịnh
Năm 1786 (Bính Ngọ)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng 42/Chiêu Thống 1 – Hiển Tông 42/Chiêu Thống 1
Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 1/Án Đô vương 1
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 8
[Nguyễn Huệ ra Bắc đưa Lê Chiêu Thống lên ngôi, Đoan Nam Vương đã chết]
Qua với em là Ngô Thì Chí
Được Chiêu Thống trao chức Hộ khoa Đô Cấp sự trung, sau thăng cho chức Hiệu thư Tu quốc sử.
[Chiêu Thống chạy theo quân Thanh]
Lại về Kim Quan, Thạch Thất
Năm 1787 (Đinh Mùi)
Trình diện tại bộ Lễ quân Tây Sơn. Nguyễn Huệ mừng mà rằng:
– Thật là trời để dành ông cho ta vậy
Tháng 4 nhận lệnh vào yết kiến về việc đặt quan lục bộ và các quan trấn thủ cùng các quan. Được Nguyễn Huệ cho làm Lại bộ Thị lang tước Trình Phái Hầu (Tĩnh Phái hầu)
Gọi em rể là Phan Huy Ích, viết thư cho bạn là Trần Bá Lãm, giới thiệu một loạt trí thức có tài, có đức về với Quang Trung, soạn Chiếu cầu hiền cho vua Quang Trung để chiêu hiền mộ sĩ
Đặng Trần Thường đến xin nhờ tiến cử vào quân Tây Sơn. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, liền thét bảo:
– Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác.
Có chuyện lại kể, Nhậm thấy vẻ khúm núm, hèn hạ, xin xỏ của Thường thì khẽ cười mà rằng: Công hầu, khanh tướng, vòng trần ai (đại ý nói rằng danh tước, công hầu làm con người thành bi kịch chốn trần ai).
Năm 1788 (Mậu Thân)
Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Chiêu Thống 2
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 10/Quang Trung 1
Cùng Võ Văn Ước coi tất cả các quan cũ nhà Lê. Trực tiếp giúp Ngô Văn Sở cả về quân sự, chính trị, ngoại giao.
Em trai khác mẹ là Ngô Thì Trí theo làm quan Tây Sơn.
Được thăng làm Thượng thư bộ Lại – chức vụ cao cấp nhất trong Lục bộ.
[29 vạn quân Thanh do Tôn Sỹ Nghị thống lãnh tràn sang xâm lược dưới chiêu bài giúp Lê Chiêu Thống]
Bày mưu kế cho Ngô Văn Sở chỉ huy quân Tây Sơn, cho gọi binh các trấn Kinh Bắc, Thái Nguyên, Hải Dương, Sơn Tây về hội tại Bắc Thành trấn Sơn Nam:
– Nay, ta giữ quân mà rút về chỗ hiểm Tam Điệp, không bị mất một mũi tên. Cho giặc vào Thăng Long ngủ trọ một đêm, rồi tung quân ra đánh, đuổi chúng đi, có mất gì đâu?.
Cho rút quân về đóng ở núi Tam Điệp – Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ, đồng thời cho Nguyễn Văn Tuyết về Phú Xuân cáo cấp.
Tập hợp được một số cựu thần nhà Lê và soạn ngay một tờ biểu suy tôn để xin Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế.
Năm 1789 (Kỷ Dậu)
Nguyễn Huệ biết mưu kế lui binh cố thủ, liền khen, nói với các tướng:
– Các người đều là chiến tướng, tự nhiên gặp giặc là đánh, mà lâm cơ cần ứng biến thì không đủ tài. Mấy tháng trước, ta phải để Ngô Thì Nhậm ở lại, cộng sự với các ngươi, chính là lo sẵn cho chỗ đó […] Vả lại, Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục. Thành Thăng Long bốn mặt đều là chiến trường, không có chỗ nào hiểm trở có thể giữ vững được. Các người đóng quân ở đấy, ngoài thì giặc Thanh xâm lấn, trong thì người Bắc làm nội ứng, các ngươi xoay xở làm sao được. Các người đem toàn quân tạm tránh mũi nhọn của giặc, trong thì khích lệ lòng căm thù của quân sĩ, ngoài thì tăng lòng kiêu căng của giặc. Đó là kế nhử giặc. Mới nghe ta đoán là kế của Ngô Thì Nhậm, đến khi hỏi Văn Tuyết thì quả nhiên là đúng
Lại nói:
– Chỉ trong vòng mười ngày nữa thế nào ta cũng quét sạch quân Thanh, nhưng nước Thanh lớn hơn ta gấp mười lần, bị thua tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ binh lửa liên miên thật không phải hạnh phúc cho dân, lòng ta sao nỡ? Vì vậy, sau khi thắng trận phải khéo “dùng ngọn bút thay giáp binh” (lấy lời lẽ khéo léo để giảng hoà, đẩy lui quân địch). Việc ấy phi Ngô Thời Nhậm không ai làm nổi. Đợi mươi năm sau, ta đủ thì giờ gây nuôi, nước giầu, dân mạnh thì ta có sợ gì nó?.
Nhận lệnh đem tiền quân tiến về Thăng Long
Năm 1790 Canh Tuất)
Được thăng Binh bộ Thượng thư, tước Phương Quận công.
Vua cử sang thương thuyết với nhà Thanh để mở một thương điếm tại Nam Ninh (Quảng Tây) mua bán hàng hoá giữa hai nước.
Tháng 2 nhận lệnh đứng đầu sứ bộ ngoại giao sang Yên Kinh (Trung Hoa) mừng vua Càn Long 80 tuổi.
Tháng 4, ngày 9, đêm, cùng đi có 100 người. Trong đoàn có Đại Tư mã Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích làm Chánh sứ, Nguyễn Duật, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Quang Thuỳ và Đoàn Nguyễn Tuấn, Phạm Công Trị đóng giả làm Quang Trung, Đặng Văn Chân, Vũ Huy Tấn và ban hát bội Bình Định. Lễ vật có hai con voi đực làm quà triều cống ngoài các cống phẩm thường lệ: ngà voi , sừng tê giác, yến, quế, gấm, đoạn, vàng, bạc…
Ngày 15, giờ Tỵ, đến Ải Nam quan. Làm lễ ở đài Chiêu Đức. Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc An Khang phụ trách dẫn đường đến Bắc Kinh, và dẫn trở lại.
Lúc tiến vào cửa Sứ quán, thấy hàng chữ đề “An Nam di sứ công quán” (Công quán của Sứ bộ xứ man di An Nam) liền không chịu vào, nói :
– Ta không phải đại diện cho một xứ man di, nên không vào Sứ quán ấy
Quan nhà Thanh chữa rằng đối với Trung quốc thì tất cả đều là man di, mọi rợ hết, bèn cười rằng:
– Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã (trâu tìm trâu nhập bọn, ngựa tìm ngựa nhập bọn). Phải chăng Đại quốc là mọi rợ khác?
Nhà Thanh đành phải sửa lại cái biển thành “Nam quốc Sứ quan Công quán”, lúc đó mới chịu dẫn đoàn ngoại giao bước vào.
Thông đồng với Tổng Đốc Lưỡng Quảng nhà Thanh Phúc Khang An qua mắt vua Càn Long
Khi vào chầu đứng ngang hàng với các sứ thần Triều Tiên, Lưu Cầu Nhật Bản.
Khi họ đòi hỏi những cống phẩm quái gỡ như nước giếng Cổ Loa để rửa ngọc trai, cống người vàng… lập luận có chứng cứ để bãi bỏ.
Trước các thắng cảnh di tích các quan địa phương, quan triều đình Trung Quốc giả vờ xin đề thơ đề bia đá để thử tài.
Tháng (8), ngày (22), đoàn ra về
Tháng (10), ngày (29), đến Ải Nam quan
Cố vấn cho vua về tổ chức lại guồng máy hành chính, thuế khóa. Cho lập sổ theo dõi nhân khẩu (hay hộ khẩu). Người dân được phân 4 hạng theo lứa tuổi: 9–17 tuổi là hạng “vị cập cách”; 18–55 tuổi là hạng “tráng”; 55–60 tuổi là hạng “lão”; 60 tuổi trở lên là hạng “lão nhiêu”.
Nhận lệnh viết thư lời lẽ khéo léo cho vua Thanh nhằm tránh việc binh đao hai nước.
Vua giao toàn quyền chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa, các thư từ bang giao giữa Đại Việt và nhà Thanh đều tự soạn thảo.
Ghé thăm mộ của Nhạc Phi ở Hàng Châu và viết bài thơ Đề Nhạc Vũ Mục vương miếu (nghĩa là “Đề miếu Nhạc Vũ Mục vương”)
Ghé thăm Miếu thờ Nhạc Phi ở Yển Thành (ngày nay là tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) và viết bài thơ Đề Yển Thành Nhạc vương miếu (nghĩa là “Đề miếu Nhạc vương ở Yển Thành”).
Theo sách Hoàng hoa đồ phả, trong những lần đi sứ phương Bắc, ông luôn cố gắng để đến tất cả những danh thắng ở Trung Quốc mà người Việt chỉ biết qua sách vở, cũng như tìm kiếm dấu vết của lịch sử Việt Nam trên đất khách.
Soạn thảo cho Quang Trung kế hoạch tái phối trí dân số và phát triển nông nghiệp, văn bản chính thức của kế hoạch này là “Tờ Chiếu Khuyến nông”
Năm 1792 (Nhâm Tý)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung 4/Cảnh Thịnh 1
[Quang Trung đột ngột mất, Quang Toản lên ngôi]
Vua sai đi sứ nhà Thanh báo tang vua Quang Trung và thụ phong vua Cảnh Thịnh.
Tháng 9 hoàn thành đi sứ trở về nước
Không còn được tin dùng, quay về nghiên cứu Phật học. Lập thiền viện, soạn công án, trở thành Hải Lượng thiền sư. Trở thành đệ tứ tổ của Thiền tông Việt Nam.
Viết sách Trúc Lâm tôn chỉ nguyên thanh
Năm 1796 (Bính Thìn)
[Nhà Tây Sơn lục đục]
Xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh ở Bích Câu, Kinh thành Thăng Long rồi quy y trong đó.
Viết sách Lâm tông chí nguyên thành
Dâng Phật hiệu cho bố là Nhị Thanh trường thọ quan tự tại phúc lượng đại hải chân như vô tận ý bồ tát
Năm 1802 (Nhâm Tuất)
Nhà Nguyễn Tây Sơn – Cảnh Thịnh 10
Nhà Nguyễn – Gia Long 1
Mùa hạ [Nhà Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long ra Thăng Long chiêu dụ quan lại cũ của nhà Lê, có điều khoản quan lại cũ của Tây Sơn nếu ra đầu thú thì không trị tội]
Cùng Phan Huy Ích, Nguyễn Danh Phan ra trình diện.
Gia Long đưa về Phú Xuân.
[Đặng Trần Thường dâng biểu kể tội]
Bị giam ở trại Tiền Quân.
Năm 1803 (Quý Hợi)
Tháng 9/3 (T2) cùng Phan Huy Ích, Nguyễn Danh Phan và một số viên quan triều Tây Sơn bị đem ra học đường phủ Phụng Thiên (nay là Quốc Tử Giám) kể tội và đánh đòn. Đặng Trần Thường ra vế câu đối:
– Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai đã biết ai
Liền đáp:
– Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Có thuyết nói rằng, nguyên câu đối lại của Ngô Thì Nhậm là: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, dù thời thế, thế nào cũng thế hoặc là: Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế nào vẫn thế.
Đặng Trần Thường bắt phải sửa lại là “thế đành theo thế” (hay thế thời theo thế hoặc là thế thì phải thế). Không nghe theo nên Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc đánh.
Về đến nhà, biết rằng bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ, không thể qua khỏi, bèn làm bài thơ gửi tặng Đặng Trần Thường:
Ai tai Đặng Trần Thường
Chân như yến xử đường
Vị Ương cung cố sự
Diệc nhĩ thị thu trường
Nghĩa là:
Thương thay Đặng Trần Thường.
Nay quyền thế lắm đấy,
nhưng khác nào như chim yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy,
rồi sẽ khốn đến nơi.
Dịch thơ:
Thương thay Đặng Trần Thường
Tổ yến nhà xử đường
Vị Ương cung chuyện cũ
Tránh sao kiếp tai ương?
5. Hậu sự
Tên trên văn bia tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám bị cho đục đi.
Khi xây lại mộ, người ta phát hiện có một bài thơ ngắn của được khắc trên một phiến đá nhỏ đặt trong mộ
Hằng tâm hà sa
Vãng lai vũ trụ
Bất dẫn bất tử
Tầm thường ly tụ.
Tạm dịch:
Tấm lòng trinh trắng có thể ví như cát của sông
Nó chu chuyển đi về trong vũ trụ này.
Nó không bao giờ hết, cũng không bao giờ chết.
Còn thân thể người ta khi “tụ” khi “ly” là chuyện bình thường
6. Tác phẩm và công trình tiêu biểu
Để lại 600 bài thơ, trên 20 tác phẩm, trong đó có 15 tác phẩm lớn
Bang giao hảo thoại (văn)
Bang giao tập (văn)
Kim mã hành dư (văn)
Hàn các anh hoa (văn, thơ)
Doãn thi văn tập (văn, thơ)
Yên đài thu vịnh (thơ)
Hoàng hoa đồ phả (thơ)
Cúc đường bách vịnh (thơ)
Hải Dương chí lược
Hy Doãn thi văn tập
Xuân Thu quản kiến
Tam thiên tự giải âm (tức Tự học toản yếu).
7. Vinh danh
Tác gia lớn trong Ngô gia văn phái
Lưu danh văn bia số 77 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Tp. Hà Nội)
Thờ ở Nhà thờ Sùng Đức (nay là Nhà thờ Ngô Thì Nhậm) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội
Tượng thờ trong điện Tây Sơn tam kiệt (Bảo tàng Quang Trung, Bình Định)
Trường THPT Ngô Thì Nhậm tại đường Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội.
8. Tham khảo
a) Internet
traonha.wordpress.com: Họ Ngô Thì – Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội
ngotoc.vn: Ngô Thời Nhậm
vi.wikipedia.org: Ngô Thì Sĩ
vi.wikipedia.org: Ngô Thì Nhậm
hanoi.vietnamplus.vn: Ngô Thì Nhậm – Nhà trí thức lỗi lạc
baotanglichsu.vn: Danh nhân Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803)
vanmau.com: Giới thiệu nhà văn Ngô Thì Chí
phunuvietnam.vn: Người vợ tảo tần của danh nhân Ngô Thì Sĩ
b) Ấn phẩm
Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)
Bản Phả chữ Hán của Ngô Ái (1871 Tân Mùi, Tự Đức 12)
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học Xã hội)
Từ điển văn học của Nhiều tác giả (2004 Giáp Thân, NXB Thế Giới)
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế (1992 Nhâm Thân, NXB Khoa học Xã hội)
Người xưa bàn về văn chương của Đỗ Văn Hỷ
Khâm định Việt sử thông giám cương mục
Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (1989 Kỷ Tỵ, NXB Trẻ và Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Tp. Hồ Chí Minh)
Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – Tập 1 của Trần Văn Giáp (1984 Giáp Tý, NXB Văn Hoá, Hà Nội)
Ngô Thì Sỹ của Trần Thị Băng Thanh (1987 Đinh Mão, NXB Hà Nội)
Lê quý dật sử của Bùi Dương Lịch (1987 Đinh Mão, NXB Khoa học Xã hội)
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái
Danh nhân văn hoá trong lịch sử Việt Nam của Tạ Ngọc Liễn (2008 Mậu Tý, NXB Thanh niên)
Đồ hoạ cổ Việt Nam (NXB Mỹ Thuật)
Họ và tên người Việt Nam của Lê Trung Hoa (2005 Ất Dậu, NXB Khoa học xã hội)
Ngô Thì Nhậm – con người và thời đại của Văn Lang (1974 Giáp Tuất, NXB Hà Tây)
Nguyễn Văn Tường và cuộc chiến chống đô hộ của Nguyễn Quốc Trị (Khai Tâm và NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh)
Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (2018 Mậu Tuất, NXB Văn Học)
Danh nhân Thăng Long – Hà Nội của Vũ Khiêu (2010 Canh Dần, NXB Hà Nội)
Thơ Ngô Thì Nhậm (1986 Bính Dần, NXB Văn Học)
Truyện danh nhân Ngô Thì Nhậm của Lê Văn Lan (2013 Quý Tỵ, NXB Văn hoá Thông tin)
Bản sắc văn hoá Việt Nam của Phan Ngọc (2000 Canh Thìn, NXB Văn hoá Thông tin)
