Phan Công Hậu (1751 – 1822)

1. Thông tin

– Tên huý: Phan Công Hậu (潘公厚) hay Công Huệ

Tên thường gọi: Phan Huy Ích (潘輝益)

Đổi tên do kiêng huý của Tuyên phi Đặng Thị Huệ

Tự: Khiêm Thụ Phủ (謙受甫), Chi Hoà

Hiệu: Dụ Am (裕庵), Đức Hiên

Tước hiệu: Thuỵ Nham hầu (瑞岩侯)

– Sinh ngày 9/1/1751 (12/Chạp/Canh Ngọ) tại làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, Đại Việt (nay là xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam)

Mất ngày 13/3/1822 (20/2/Nhâm Ngọ) (71 tuổi) tại làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, Đại Việt (nay là xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam)

– Giới tính: Nam

– Quốc tịch: Đại Việt

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Nho giáo

– Là chính trị gia thời nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

2. Hôn nhân và gia đình

a) Thân thế

– Bố là Phan Huy Cận

b) Hôn nhân và con cái

– Quan hệ gia đình với vợ là Ngô Thị Thực

3. Con người và tình cách

Ông Ban Ki-moon gửi lời chào mừng khi nghe tin về cuộc hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của danh nhân Phan Huy Ích : Tôi hết sức kính trọng danh nhân Phan Huy Ích, vì Tổ quốc, với tư cách là sứ thần của vương triều Tây Sơn đã chiến đấu chống lại quân xâm lược nhà Thanh, tham gia vào cuộc chiến ngoại giao nguy hiểm cả đến tính mạng

Ông Ahn Kyong-hwan dành nhiều tâm sức nghiên cứu, ông chia sẻ: Phan Huy Ích là một trong những nhà ngoại giao nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ông là người có vai trò giống như Seo Hee trong lịch sử Hàn Quốc, người đã ngăn chặn sự xâm lược của nhà Liêu bằng chiến thuật ngoại giao. Với vai trò là nhà ngoại giao trải qua 3 đời vua từ cuối nhà Lê, sang đời vua Tây Sơn, rồi đến triều Nguyễn, ông đã làm nên tên tuổi của mình và là một tác gia lớn để lại nhiều tác phẩm đóng góp vào kho tàng văn học Việt Nam. Ông là một người Thầy trong lịch sử Việt Nam.

4. Cuộc đời và sự nghiệp

Con cả trong gia đình ? anh chị em (Phan Công Hậu, 2, 3, 4, Phan Hữu Chấn)

Năm 1751 (Canh Ngọ)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 11

Đàng ngoài chúa Trịnh – Minh Đô vương 11

Đàng trong chúa Nguyễn – Vũ vương 13

Tháng 1, ngày 9 (12/Chạp) sống và học tập tại làng Thu Hoạch

Cùng gia đình chuyển nhà ra xã Thụy Khuê, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Tp. Hà Nội)

Năm 1771 (Tân Mão) khi 20 tuổi

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 31

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 4

Đàng trong chúa Nguyễn – Định vương 6

Đến trường Nghệ An tham gia thi Hương.

Đỗ đầu khoa Giải nguyên

Được bổ dụng chức quan nhỏ tại trấn Sơn Nam.

Học với thầy là Ngô Thì Sỹ

Được thầy mến tài và gả con gái là Ngô Thị cho.

Năm 1773 (Quý Tỵ)

Được bổ chức Tả mạc xứ Sơn Nam (chức quan phụ trách về hộ tịch, thuế khóa của Thừa Ty Sơn Nam)

Năm 1775 (Ất Mùi)

Cùng anh vợ là Ngô Thì Nhậm thi Hội ở Thăng Long.

Đỗ Tiến sĩ

Đỗ Chế khoa đồng tiến sĩ (Hội nguyên tiến sĩ – đứng đầu khoa)

Năm 1776 (Bính Thân)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 36

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 9

Đàng trong chúa Nguyễn – Tân Chính vương 1

Đỗ kỳ thi Ứng chế và được triều đình bổ làm Hàn lâm thừa chỉ

Làm Đốc đồng tỉnh Thanh Hóa, trông coi việc an ninh.

Năm 1777 (Đinh Dậu)

Chúa Trịnh Sâm lệnh mang ấn kiếm, sắc phong tước Cung quận công của vua Lê ban cho Nguyễn Nhạc

Vào đến Phú Xuân, tướng Phạm Ngô Cầu đang trấn giữ cản lại. Liền sai Nguyễn Hữu Chỉnh đi vào Quảng Nam phong cho Nguyễn Nhạc.

Chúa phái lên ải Nam quan tiếp sứ thần nhà Thanh

Năm 1780 (Canh Tý)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 40

Đàng ngoài chúa Trịnh – Tĩnh Đô vương 13

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 2

[Trịnh Tông âm mưu làm chính biến không thành. Trịnh Sâm liền tiến hành một cuộc đàn áp rất tàn khốc. Vì là con rể của Ngô Thì Sĩ và là em rể của Ngô Thì Nhậm, nên cũng bị công kích từ nhiều phía khác nhau]

Buồn nản quá, bèn cáo bệnh để xin từ quan nhưng không được, liền đóng bè ở dưới sông, xa lánh mọi đồng liêu cũng như thuộc chức, mỗi tháng chỉ đến công đường một lần.

Năm 1785 (Ất Tỵ)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 45

Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 3

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 7

Tình hình tạm ổn, trở lại việc quan

Được thăng Hiến sát sứ Thanh Hóa, trông coi việc xét xử và luật pháp.

Về triều giữ chức Đô cấp sự trung kiêm Thiêm sai tri hình phiên ở phủ Chúa.

Chuyển giữ Đốc thị ở trấn Nghệ An kiêm Tán Lý Quân vụ ở trấn Thanh Hoa, dưới trướng Bùi Thế Toại

Năm 1786 (Bính Ngọ)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Cảnh Hưng/Hiển Tông 46 – Chiêu Thống 1

Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 4 – Án Đô vương 1

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 8

Mùa đông, nhận lệnh cầm quân đi đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉ mới giáp chiến, bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh thua và bắt sống. Có bạn cũ là Nguyễn Kim Khuê ra sức tìm cách cứu giúp, được tha và mang theo.

Năm 1787 (Đinh Mùi)

[Quân Tây Sơn ra Bắc Hà lần thứ hai. Lê Chiêu Thống chạy sang Kinh Bắc chống lại Tây Sơn]

Bỏ lên Sài Sơn (Sơn Tây).

Được anh vợ Ngô Thì Nhậm gọi ra yết kiến nhà Tây Sơn.

Năm 1788 (Mậu Thân)

Nam triều nhà Lê (Lê trung hưng) – Chiêu Thống 3

Đàng ngoài chúa Trịnh – Đoan Nam vương 4 – Án Đô vương 1

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Thái Đức 10 – Quang Trung 1

[Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền]

Tháng 5 cùng Nguyễn Nễ, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan, Ninh Tốn, Vũ Huy Tấn ra hợp tác với Tây Sơn.

Được phong làm Tả Thị lang bộ Hộ, tước Thuỵ Nham hầu.

Mùa thu, theo Nguyễn Huệ vào Phú Xuân

[Lê Chiêu Thống rước quân Mãn Thanh sang giày xéo đất nước, trả thù những người theo Tây Sơn, Lê Chiêu Thống sai đục bỏ tên Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích trên bia Tiến sĩ, đồng thời phát lệnh truy nã cả hai]

Năm 1789 (Kỷ Dậu)

 Mùa xuân, phụ trách công việc ngoại giao.

Mùa thu, chờ mệnh ở trấn Lạng Sơn để tiếp sứ giả.

Năm 1790 (Canh Tuất)

Được vua Quang Trung giao cùng Ngô Thì Nhậm chủ trì về các công việc chính sách và giao dịch ngoại giao với nhà Thanh.

Tháng 2 nhận chiếu cử làm Chánh sứ trong phái đoàn ngoại giao sang Yên Kinh (Trung Hoa) mừng vua Càn Long 80 tuổi.

Tháng 4, ngày 9, đêm, cùng đi có 100 người. Trưởng đoàn là Ngô Thì Nhậm, với Đại Tư mã Ngô Văn Sở, Nguyễn Duật, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Quang Thuỳ và Đoàn Nguyễn Tuấn, Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung, Đặng Văn Chân, Vũ Huy Tấn và ban hát bội Bình Định. Lễ vật có hai con voi đực làm quà triều cống ngoài các cống phẩm thường lệ: ngà voi, sừng tê giác, yến, quế, gấm, đoạn, vàng, bạc…

Ngày 15, giờ Tỵ, đến Ải Nam quan. Đúng giờ cổng mở bằng một chìa khóa lớn dài khoảng một thước tây, cửa mở, đốt pháo, lính gác cầm giáo giàn chào. Chỉ có đoàn sứ đi qua, các quân lính, người khuân vác đều dừng lại trước cửa. Từ Ải Nam Quan, Trung Quốc hoàn toàn phụ trách việc tiếp rước, quân lính hộ vệ và phu khuân vác cùng xe ngựa hay thuyền. Theo thông lệ, tại đài Chiêu Đức, các rương hòm phẩm vật đều được mở ra, bày cúng tế, quan chức nhà Thanh kiểm kê chứng nhận phẩm vật, sau đó lại bỏ vào rương hòm, chèn kín bằng ống giấy dâm bào, đóng khèn có con dấu in chứng nhận, khóa kín cho đến Bắc Kinh mới mở ra.

Sứ đoàn được đưa về tiếp tân ở Thụ Hàng, ra mắt viên Tổng Đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An (phụ trách dẫn đường đến Bắc Kinh, và dẫn trở lại). Sứ đoàn lên thuyền theo sông Tây Giang vào đến sông Minh Ninh để theo kinh đào phía Bắc Quế Lâm vào sông Tương Giang từ đó đi vào Động Đình Hồ đến Hán Khẩu. Qua cửa sông Minh Ninh có thắng cảnh Di Tích Hoàng Sào binh mã núi Hoa Sơn. Sứ đoàn dừng chân tại thành Cửu Giang, tỉnh Giang Tây được chủ lữ quán là Lã Triệu Tường tiếp đãi ân cần, liền viết thơ tặng.

Đến nhà trạm Võ Xương gần lầu Hoàng Hạc, liền gửi quốc thư về nước cho Triều đình, kèm theo là bài thơ gửi cho Ngô Thì Nhậm.

Tháng (6), ngày (15) đến Vũ Xương thì gặp Ngô Vi Quý từ Yên Kinh đi về.

Đi qua các địa danh như: Miếu Nhạc Phi ở Yển Thành, Di chỉ Trú Cẩm Đường ở phủ thành Chương Đức, Vạn Lý Trường Thành, Nhiệt Hà tỉnh ở đông bắc Trung Quốc

Hộ giá Phạm Công Trị (vua Quang Trung giả) đến Nguyệt Đàn, đêm đến công quán Viên Minh.

Tháng (8), ngày (22), từ Tây Uyển, đoàn ra về. Đến thành Trác Châu đi qua miếu Tam Nghĩa, đến Hứa Châu.

Đêm trăng sứ đoàn đi ngang qua cửa ải Vũ Thắng. Về đến Vũ Xương, sứ đoàn lại lên thăm Hoàng Hạc Lâu

Giờ Thìn thuyền nhổ neo từ Nhạc Dương, gió bấc chuyển mạnh, sóng hồ nổi lên cuồn cuộn, thuyên chở hành lý và thuyền của quan Tư Mã Ngô Văn Sở đều bị đắm. Đến giờ Mùi vượt qua hồ tới bến Tương Âm bèn mua rượu uống cho vui.

Qua miếu Khuất Nguyên

Trên đường thủy ở Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây) viết thơ gửi Quan Binh Bộ họ Ngô

Tháng (11), ngày (28), đến chổ đóng quân, cởi y phục sứ thần, mặc y phục nước nhà, từ biệt các quan hộ tống.

Ngày (29) buổi sáng, tới Ải Nam Quan gặp Ngô Thì Nhậm.

Tuyển tập thơ đặt tên là Tinh sà kỷ hành

Năm 1791 (Tân Hợi)

Em trai là Phan Hữu Trấn nổi dậy chống Tây Sơn, bị giết.

Dâng biểu trần tình tạ tội. Vua Quang Trung phê vào tờ biểu: Tính người thiện ác khác nhau, cha còn chả được lòng với con, huống gì anh đối với em, việc không dính líu đến, thì còn có hiềm nghi gì.

Được cho vào kinh triều kiến. Khi vào chầu vua Quang Trung lại gọi tới trước mặt ân cần chỉ bảo.

Năm 1792 (Nhâm Tý)

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Quang Trung 4 – Cảnh Thịnh 1

Được thăng Thị trung Ngự sử ở tòa Nội các

Được phong làm Thượng thư bộ Lễ.

[Vua Quang Trung mất].

Vua sai đi sứ nhà Thanh báo tang vua Quang Trung và thụ phong vua Cảnh Thịnh.

Giúp đỡ vua trẻ Quang Toản.

Được giao việc viết một số bài để hòa giải như vụ Vũ Văn Dũng, Trần Quang Diệu

Theo vua vào chinh phạt Nguyễn Ánh tại sông Gianh

Năm 1796 (Bính Thìn)

Viết lời tựa cho cuốn sách Lâm tông chí nguyên thành của Ngô Thì Nhậm

Năm 1799 (Kỷ Mùi)

[Công chúa Ngọc Hân qua đời]

Viết 5 bài thơ quốc âm ca ngợi đức tài của bà thay vua Quang Toản.

Năm 1800 (Canh Thân)

Mùa xuân, vào triều kiến, đem tác phẩm bảo Ngô Thì Nhậm xem và bình luận.

Năm 1802 (Nhâm Tuất)

Nhà Nguyễn Tây Sơn – Cảnh Thịnh 10

Nhà Nguyễn – Gia Long 1

Mùa hạ [Nhà Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long ra Thăng Long chiêu dụ quan lại cũ của nhà Lê, có điều khoản quan lại cũ của Tây Sơn  nếu ra đầu thú thì không trị tội]
Cùng Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Danh Phan ra trình diện.

Gia Long đưa về Phú Xuân

[Đặng Trần Thường dâng biểu kể tội]

Bị giam ở trại Tiền Quân.

Năm 1803 (Quý Hợi)

Tháng 9/3 (T2) cùng Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Danh Phan và một số viên quan triều Tây Sơn bị đem ra học đường phủ Phụng Thiên (nay là Quốc Tử Giám) kể tội và đánh đòn.

Về Sài Sơn sống ẩn cư

Năm 1804 (Giáp Tý)

[Gia Long muốn định lại tên nước]

Cử soạn một bài tuyên cáo

Bèn sao lại nội dung trong Dụ Am thi văn tập, có đoạn như sau:

“Xuống chiếu cho thần dân trong thiên hạ đều biết: Trẫm nghĩ, xưa nay các bậc đế vương dựng nước, ắt có đặt quốc hiệu để tỏ sự đổi mới, hoặc nhân tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ nghĩa tốt đẹp, xét trong sử sách chứng cớ đã rõ ràng. Đến thời Đinh Tiên hoàng gọi là Đại Cồ Việt nhưng người Trung Quốc vẫn gọi là Giao Chỉ. Từ thời Lý về sau, quen dùng tên An Nam do nhà Tống phong cho ngày trước. Tuy thế, vận hội dù có đổi thay nhưng trải bao đời vẫn giữ theo tên cũ, thực là trái với nghĩa chân chính của việc dựng nước vậy. Trẫm nối nghiệp xưa, gầy dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để truyền lâu dài […] Ban đổi tên An Nam làm nước Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ. Từ nay trở đi, cõi viêm bang bền vững, tên hiệu tốt đẹp gọi truyền, ở trong bờ cõi đều hưởng phước thanh ninh […]”.

Năm 1814 (Giáp Tuất)

Về lại quê Thu Hoạch (Thiên Lộc, Hà Tĩnh) mở lớp dạy học

Năm 1819 (Kỷ Mão)

Ra Sài Sơn an dưỡng. Hoàn chỉnh bản dịch sang tiếng Việt bài thơ Chinh phụ ngâm, sáng tác Dụ Am thi văn tập, Dụ Am ngâm lục.

Năm 1822 (Nhâm Ngọ)

Nhà Nguyễn – Minh Mạng 2

Ngày 13/3 (20/2) qua đời tại quê nhà.

4. Tác phẩm

– Thơ ca

Tập thơ Dụ Am ngâm lục (khoảng 600 bài. Trong đó, 11 bài thơ Nôm)

Tập thơ Tinh sà kỷ hành (85 bài)

– Hàng trăm bài văn

Lịch triều điền cố (Thời Lê-Trịnh)

Dụ am văn tập (8 tập sách. Trong đó, 20 bài văn)

Nam trình tạp vịnh

Cẩm rình kỷ hứng

Cúc thu bách vịnh.

Thang châu lữ hứng

Nam trình tục tập

Vân du tùy bút..

– Và văn bia, bi ký: Nổi tiếng là bài Trùng tu bi ký, Văn bia về Đặng Tiến Đông

5. Vinh danh

Mệnh danh là An Nam ngũ tuyệt (một trong năm người văn chương hay nhất nước Nam) và bốn họ văn chương danh tướng (Nguyễn Du, Nguyễn Hành họ Nguyễn Tiên Điền; Phan Huy Ích họ Phan Huy, huyện Thạch Thất, Sơn Tây; Nguyễn Huy Tự họ Nguyễn Trường Lưu, Hà Tĩnh và Ngô Thì Vị họ Ngô Thì, Tả Thanh Oai, Hà Tây).

Được ban sắc phong Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu

Nhà thờ tại thôn Thụy Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Tp. Hà Nội

Tên được đặt cho các con đường tại Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng…

Đường Phan Huy Ích qua các phường 12, phường 14 thuộc quận Gò Vấp; phường 15 thuộc quận Tân Bình tại Tp. Hồ Chí Minh.

Trường Tiểu học Phan Huy Ích tại Số 139 Phan Huy Ích, phường 15, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

6. Tham khảo

a) Internet

traonha.wordpress.com: Họ Ngô Thì – Tả Thanh Oai – Thanh Trì – Hà Nội

vi.wikipedia.org: Phan Huy Ích

en.wikipedia.org: Phan Huy Ích

vov2.vov.vn: Dụ Am Phan Huy Ích – Vị quan tài tình của ba triều đại

thivien.vn: Trang thơ Phan Huy Ích

baotanglichsu.vn: Danh sĩ Tây Sơn: Phan Huy Ích (1751 – 1822)

chimvie3.free.fr: Phan Huy Ích (1751 – 1822) Tinh sà kỷ hành

b) Ấn phẩm

Bản Phả của Hán Quốc công Ngô Lan (1477 Đinh Dậu, Hồng Đức Lê Thánh Tông)

Bản Phả chữ Hán của Ngô Ái (1871 Tân Mùi, Tự Đức 12)

Việt Nam sử lược

Beyond the bronze pillars: envoy poetry and the Sino-Vietnamese của Liam C. Kelley 

Danh tướng Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần (2005, NXB Giáo dục)

Cult, Culture, and Authority: Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History của Olga Dror 

Culture and Customs of Vietnam của Mark W. McLeod và Thi Dieu Nguyen 

Gunther, Hartmut; Ludwig, Otto: Schrift und Schriftlichkeit của Mouton De Gruyter 

Chinh phụ ngâm khúc

Arts of Asia

Sources of Vietnamese Tradition của George E. Dutton, Jayne S. Werner và John K. Whitmore 

Liber amicorum: mélanges offerts au professeur Phan Huy Lê của John Kleinen, Philippe Papin và Huy Lê Phan 

Thơ văn Phan Huy Ích (1978, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội)

Tinh tuyển văn học Việt Nam (2004, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội)

Chinh phụ ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn (1952, Minh Tân Paris)

Bài viết có thể có dị bản chưa kiểm chứng và sẽ luôn cập nhật. Mọi đóng góp vui lòng gửi về:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *